Vụ công ty Kwang Nam: Buộc trả dứt nợ trong vòng ba tháng

TT (TP.HCM) – Chiều 19-6, hội đồng xét xử Tòa án nhân dân Q.Phú Nhuận (TP.HCM) đã tuyên án buộc Công ty TNHH Kwang Nam trả dứt nợ cho Bảo hiểm Xã hội (BHXH) TP.HCM trong vòng ba tháng, kể từ ngày tuyên án đến hết ngày 19-9-2008.

Tháng 1-2008, BHXH TP nộp đơn khởi kiện Công ty TNHH Kwang Nam (100% vốn đầu tư nước ngoài) vì nợ BHXH từ năm 2003 đến tháng 5-2008 trên 7 tỉ đồng. Trước đó, đoàn kiểm tra liên ngành đã nhiều lần kiểm tra, xử phạt nhưng công ty không có chuyển biến, khắc phục sai phạm.

Hội đồng xét xử chỉ rõ việc Công ty TNHH Kwang Nam hằng tháng khấu trừ và chiếm dụng 6% BHXH, BHYT từ tiền lương của người lao động là hành vi coi thường pháp luật, vi phạm lợi ích hợp pháp của người lao động. Đây là doanh nghiệp nợ BHXH đầu tiên được xét xử từ trước đến nay trên địa bàn TP.
(theo báo tuổi trẻ 20/6/2008)

Hỏi-đáp về BHXH, BHYT

Những thắc mắc về chế độ BHXH, BHYT sẽ được các cơ quan chức năng trả lời cụ thể:

Hỏi: Ngày 19/12/2007 Bảo hiểm xã hội ( BHXH) tỉnh Gia Lai nhận được công văn số 4149-NC-BĐ/ ND của Ban bạn đọc Báo Nhân dân chuyển đơn của bà Đoàn Thị Mai ở tổ 11, thị trấn Kbang, huyện Kbang, tỉnh Gia Lai khiếu nại về chế độ chính sách của chồng bà là ông Đào Xuân Vĩnh nhân viên bảo vệ rừng thuộc Ban quản lý rừng phòng hộ Bắc An khê, bị tai nạn ngày 21/2/2006.

Trả lời: Sau khi kiểm tra, xem xét vụ việc theo thẩm quyền Bảo hiểm xã hội Gia Lai có ý kiến như sau:

Theo quy định pháp luật BHXH hiện hành về giải quyết chế độ tai nạn lao động (TNLĐ) cho người lao động tham gia BHXH bắt buộc, trách nhiệm của người sử dụng lao động phải lập đầy đủ hồ sơ theo quy định tại Điều 12, Quy định về hồ sơ và quy trình giải quyết hưởng các chế độ BHXH đối với người lao động tham gia BHXH bắt buộc ban hành theo Quyết định số 815/QĐ-BHXH ngày 06/6/2007 của Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam bao gồm: Sổ BHXH; văn bản đề nghị của người sử dụng lao động; biên bản điều tra TNLĐ; giấy ra viện sau khi điều trị thương tật ổn định; biên bản giám định mức suy giảm khẳ năng lao động; bản khai quá trình đóng BHXH.

Với chức năng nhiệm vụ cơ quan thực hiện chế độ chính sách, BHXH Gia Lai đến nay chưa nhận được hồ sơ giải quyết chế độ TNLĐ của ông Đào Xuân Vĩnh do Ban quản lý rừng phòng hộ An khê chuyển đến.

BHXH Gia Lai kính báo để quý cơ quan biết .
Hỏi: Ông Phan Xuân Hùng ở Thôn 5 , xã Đăk Krong , huyện Đăk Đoa , tỉnh Gia Lai hỏi : Ông nhập ngũ tháng 5/1972 sau chuyển ngành công tác ở công ty nhà nước năm 1990 , nghỉ việc hưởng chế độ mất sức lao động đến năm 2000 . Nay bản thân tuổi cao , bệnh tật triền miên , muốn xin đi giám định để hưởng tiếp trợ cấp mất sức lao động được không ?

Trả lời:

Vấn đề ông hỏi phòng Chế độ – Chính sách trả lời như sau :

Theo hồ sơ mất sức lao động số 498971 , ông sinh năm 1951 , nghỉ hưởng từ 1/1/1990 , với thời gian công tác thực tế 17 năm 08 tháng ,quy đổi 20 năm 01 tháng , ông đã thôi hưởng trợ cấp mất sức lao động từ ngày 01/02/2000 ,với thời gian hưởng trợ cấp 10 năm 01 tháng theo Quyết định số 60/HĐBT ngày 01 /03/1990 của Hội Đồng Bộ Trưởng (nay là Chính phủ) Bảo hiểm xã hội tỉnh Gia Lai đã tiến hành thủ tục theo quy định để cắt trợ cấp mất sức lao động của ông ( Quyết định 515/BHXH , ngày 27 tháng 12 năm 1999 của Giám đốc Bảo hiểm xã hội tỉnh Gia Lai ).

Đến nay , sau thời gian cắt chế độ trợ cấp mất sức lao động đã hơn 7 năm ông mới có đơn trình bày do sức khoẻ yếu xin đi giám định để hưởng tiếp trợ cấp . Theo quy định hiện hành về chính sách chế độ bảo hiểm xã hội những trường hợp đã cắt trợ cấp mất sức lao động thì không được đặt vấn đề xem xét lại .
Hỏi: Ông Phí Ngọc Thích ở xã Đông á , huyện Đông Hưng , tỉnh Thái Bình hỏi:Trước đây tôi công tác tại Công ty xây dựng 45 thuộc Tổng Công ty xây dựng 4 – Bội Nông Nghiệp và phát triển Nông thôn . Nghỉ thôi việc từ tháng 9/2001 , đến ngày 1/12/2004 tôi mới nhận được lương hưu hàng tháng . Đề nghị cơ quan Bảo hiểm xã hội xem xét ,giải quyết cho tôi được hưởng tiền lương hưu hàng tháng trong thời gian 39 tháng ( từ tháng 9/2001 đến tháng 11/2004 ).

Trả lời:

Ngày 22/11/2004 Bảo hiểm xã hội tỉnh Gia Lai tiếp nhận hồ sơ đề nghị hưởng chế độ hưu trí hàng tháng của ông theo phiếu giao nhận hồ sơ số 09/TNHS . Căn cứ Quyết định số 162/QĐCT ngày 01/10/2004 của Công ty xây dựng 45 ông được nghỉ hưởng chế độ hưu trí từ ngày 01/12/2004 Bảo hiểm xã hội tỉnh Gia Lai có Quyết định số 500/QĐ – BHXH- CĐCS ngày 22/11/2004 giải quyết cho ông hưởng chế độ hưu trí hàng tháng kể từ ngày 01/12/2004 theo quy định tại Quyết định số 1584/1999/QĐ-BHXH ngày 24/06/1999 của Bảo hiểm xã Việt Nam về việc ban hành quy định về hồ sơ và quy trình giải quyết hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội .

Vấn đề chậm hưởng lương hưu hàng tháng , đề nghị ông liên hệ với cơ quan chủ quản để được xem xét giải quyết .

Không quy định cho những người đã hưởng chế độ mất sức

Ông Nguyễn Xuân Lam (Tiến Thủy, Quỳnh Lưu, Nghệ An) hỏi: Tôi sinh năm 1936. Năm 1958 tôi nhập ngũ. Từ đó đến năm 1978 tôi trải qua nhiều vị trí công tác, trong đó phần lớn thời gian là công tác trong quân đội. Tháng 4/1978, tôi được Bộ tư lệnh Quân khu 4 cho nghỉ hưởng chế độ mất sức bệnh binh 2/3 (tỷ lệ mất sức lao động 71%). Tôi được biết vừa qua các bộ đã có quy định về chế độ hưu trí đối với quân nhân trực tiếp tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước từ 30/4/1975 trở về trước có 20 năm trở lên phục vụ quân đội. Theo quy định này, tôi có được hưởng chế độ hưu không? Cách tính thời gian thế nào?
Trả lời:

Ngày 28/12/2006 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 159/2006/NĐ-CP về việc thực hiện chế độ hưu trí đối với quân nhân trực tiếp tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước từ 30/4/1975 trở về trước có 20 năm trở lên phục vụ quân đội đã phục viên, xuất ngũ.

Ngày 16/4/2007, liên Bộ: Quốc phòng – Lao động Thương binh và Xã hội – Tài chính đã có Thông tư liên tịch số 69/2007/TTLT hướng dẫn thực hiện Nghị định số 159 nêu trên. Theo đó, đối tượng áp dụng chính sách này bao gồm: Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, binh sĩ trực tiếp tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước nhập ngũ từ ngày 30/4/1975 trở về trước, có đủ 20 năm trở lên phục vụ trong quân đội đã phục viên, xuất ngũ trước ngày 01/4/2000, thuộc một trong các trường hợp sau:

a. Đã phục viên, xuất ngũ;

b. Thương binh bị suy giảm khả năng lao động 81% trở lên đang điều trị tại các trung tâm điều đường thương binh hoặc từ trung tâm điều dưỡng thương binh đã về gia đình nhưng chưa được hưởng chế độ hưu trí.

Tại Nghị định 159 cũng như Thông tư 69 đều không đề cập đến đối tượng áp dụng là quân nhân đang hưởng trợ cấp mất sức.

Về thời gian công tác để tính lương hưu, theo hướng dẫn tại Thông tư số 69:

a. Thời gian công tác có tham gia bảo hiểm xã hội và thời gian công tác được coi là thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội để làm căn cứ tính lương hưu là thời gian công tác thực tế đã được xác định trong hồ sơ phục viên, xuất ngũ hoặc hồ sơ thương binh của mỗi người.

b. Thời gian được tính kể từ ngày 31/3/2000 trở về trước, nếu có đứt quãng thì được cộng dồn; trường hợp có tháng lẻ thì dưới 3 tháng không tính, có từ đủ 3 tháng đến đủ 6 tháng tính bằng nửa (1/2) mức hưởng của một năm đóng bảo hiểm xã hội có từ trên 6 tháng đến 12 tháng được tính bằng mức hưởng của một năm đóng bảo hiểm xã hội.

Quyền lợi BHXH CỦA NLĐ tại DNNN chuyển đổi

Bạn Lê Thị Hồng Lan (Phủ Lý, Hà Nam) hỏi: Công ty tôi công tác là DNNN đang chuẩn bị cổ phần hoá. Chúng tôi được biết ngày 26//6/2007 Chính phủ đã có Nghị định số 110/2007/NĐ-CP quy định về việc giải quyết chính sách đối với người lao động dôi dư. Tuy nhiên nghị định này lại không đề cập đến việc giải quyết chế độ BHXH cho những lao động chấm dứt HĐLĐ. Xin hỏii vấn đề này được giải quyết thế nào?

Trả lời:

Hiện nay chế độ bảo hiểm xã hội đối với người lao động thực hiện theo quy định tại Luật BHXH và các văn bản hướng dẫn thi hành. Trong đó, người lao động có quyền bảo lưu thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội hoặc hưởng bảo hiểm xã hội một lần theo quy định

Cách tính bình quân tiền lương để tính chế độ cho lao động ở các doanh nghiệp cổ phần hóa

Bạn Hoàng Minh Vũ (Hà Nội) hỏi: Tôi công tác ở một DNNN nay đã chuyển sang hoạt động theo hình thức công ty cổ phần. Như vậy khi nghỉ hưu, cách tính mức đóng BHXH để tính hưởng chế độ có được áp dụng như đối với lao động trong khu vực Nhà nước không?
Trả lời:

Theo Thông tư số 03/2007/TT-BLĐTBXH ngày 30/1/2007 của Bộ LĐTBXH hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 152/2006/NĐ-CP ngày 22/12/2006 của Chính phủ hướng dẫn một số điều của Luật BHXH về BHXH bắt buộc, NLĐ làm việc theo HĐLĐ ở các Công ty nhà nước chuyển thành Công ty cổ phần; Công ty TNHH nhà nước một thành viên; Công ty TNHH nhà nước hai thành viên trở lên, được áp dụng mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH quy định tại khoản 4 Mục IV Phần B Thông tư này (như cách tính đối với NLĐ thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định và có toàn bộ thời gian đóng BHXH theo chế độ tiền lương này) để tính lương hưu, trợ cấp một lần khi nghỉ hưu và BHXH một lần nếu Công ty thực hiện đầy đủ các quy định dưới đây:
a) Áp dụng thang lương, bảng lương do Nhà nước quy định và đăng ký với cơ quan quản lý nhà nước về lao động tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương theo quy định tại Nghị định số 114/2002/NĐ-CP ngày 31/12/2002 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về tiền lương;

b) Thực hiện chuyển xếp lương, nâng bậc, nâng ngạch lương theo quy định của Nhà nước đối với công ty nhà nước, trên cơ sở thang lương, bảng lương được áp dụng tại điểm a khoản này;

c) Đóng BHXH trên cơ sở mức lương quy định tại điểm a và điểm b khoản này.

Trường hợp Công ty không thực hiện đầy đủ các quy định trên thì NLĐ áp dụng mức bình quân tiền lương tiền công tháng đóng BHXH quy định tại khoản 6 Mục IV Phần B Thông tư này để tính hưởng BHXH. Cụ thể là:

Mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH đối với NLĐ vừa có thời gian đóng BHXH thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định, vừa có thời gian đóng BHXH theo chế độ tiền lương do người SDLĐ quyết định = (Tổng số tiền lương tháng đóng BHXH theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định + Tổng số tiền lương; tiền công của các tháng đóng BHXH theo chế độ tiền lương do người SDLĐ quyết định) /Tổng số tháng đóng BHXH
Trong đó:

a) Tổng số tiền lương tháng đóng BHXH theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định được tính bằng tích số giữa tổng số tháng đóng BHXH theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định với mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH.
Mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH được tính theo quy định tại khoản 4 Mục này.

b) Trường hợp NLĐ có từ 2 giai đoạn trở lên thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định thì tổng số tiền lương tháng đóng BHXH của mỗi giai đoạn được tính như quy định tại điểm a nêu trên.Tổng số tiền lương tháng đóng BHXH theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định được tính bằng tổng số tiền lương tháng đóng BHXH của các giai đoạn.

Tăng mức đóng BHXH TỪ 1/1/2010

Một số bạn đọc hỏi: Chúng tôi là những lao động đã được giải quyết chế độ theo Nghị định 41, đang độ tuổi đóng tiếp BHXH để đủ tuổi, đủ năm thì nghỉ hưu. Chúng tôi nghe nói, theo Luật BHXH thì mức đóng BHXH của chúng tôi sẽ tăng. Không biết thông tin đó có đúng không? Đề nghị Tòa soạn cho biết.

Trả lời:

Theo Thông tư số 03/2007/TT-BLĐTBXH ngày 30/1/2007 của Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 152/2006/NĐ-CP ngày 22/12/2006 của Chính phủ hướng dẫn một số điều của Luật BHXH về BHXH bắt buộc.

Người lao động nghỉ việc theo Nghị định số 41/2002/NĐ-CP ngày 11/9/2002 của Chính phủ có đủ 15 năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên, còn thiếu tối đa 5 năm thì độ tuổi nghỉ hưu và đang tự đóng tiếp bảo hiểm xã hội hằng tháng theo quy định tại khoản 7 Điều 58 Nghị định số 152/2006/NĐ-CP thì mức đóng hằng tháng của người lao động từ tháng 1/2007 đến tháng 12/2009 là 16% và từ tháng 1/2010 đến tháng 12/2011 là 18% trên mức lương tháng trước khi nghỉ việc cho đến khi đủ 60 tuổi đối với nam, 55 tuổi đối với nữ để hưởng chế độ hưu trí.

Chế độ BHYT đối với cưu chiến binh

Một số bạn đọc hỏi: Năm 2006, Chính phủ đã có quy định về chế độ BHYT đối với cựu chiến binh. Chế độ này có phải được thực hiện đối với tất cả cựu chiến binh? Quyền lợi được hưởng như thế nào?

Trả lời:

Ngày 25/7/2007, Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội- Hội Cựu chiến binh Việt Nam- Bộ Tài chính- Bộ Quốc phòng đã có Thông tư liên tịch số 10/2007 hướng dẫn thực hiện một số điều Nghị định số 150/2006/NĐ-CP ngày 12/12/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điềuPháp lệnh Cựu chiến binh.

Theo thông tư này, cựu chiến binh thuộc diện nghèo theo chuẩn do Chính phủ quy định; Cựu chiến binh đã tham gia kháng chiến từ ngày 30/4/1975 trở về trước, không thuộc diện BHYT bắt buộc hoặc chưa được hưởng BHYT theo các chế độ ưu đãi khác thì được Nhà nước cấp thẻ BHYT theo quy định hiện hành;

Quyền lợi của người được hưởng chế độ BHYT thực hiện theo quy định của Điều lệ BHYT ban hành kèm theo Nghị định số 63/2005/NĐ-CP ngày 16/5/2005 của Chính phủ;

Mức đóng BHYT hàng tháng bằng 3% tiền lương tối thiểu chung do ngân sách Nhà nước đảm bảo.
Phải trả lại chế độ trợ cấp đã nhận nếu được tuyển dụng lại

Ông Hoàng Anh Vũ (Yên Bái) hỏi: Trước đây, những người lao động nghỉ theo Nghị định 41 nếu được tuyển dụng lại vào làm việc tại cơ quan cũ thì phải trả lại khoản trợ cấp đã nhận. Chúng tôi nghe nói nay Nhà nước có quy định mới về vấn đề chế độ cho lao động dôi dư; vậy quy định trên có gì thay đổi không?

Trả lời:

Ngày 26/6/2007, Chính phủ đã ban hành Nghị đinh số 110/2007/NĐ-CP về chính sách đối với người lao động dôi dư do sắp xếp lại công ty nhà nước.

Theo Nghị định, người lao động dôi dư đang thực hiện hợp đồng lao động không xác định thời hạn không đủ điều kiện giải quyết chế độ hưu trí theo quy định tại nghị định này thì thực hiện chấm dứt hợp đồng lao động và được hưởng các chế độ sau:

- Trợ cấp 1 tháng tiền lương và phụ cấp lương (nếu có) cho mỗi năm (đủ 12 tháng, số tháng lẻ cộng dồn vào giai đoạn tiếp theo) thực tế làm việc (có đi làm, có tên trong bảng thanh toán lương) trong khu vực nhà nước (công ty 100% vốn nhà nước; cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp của Nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang được hưởng lương từ ngân sách nhà nước; nông, lâm trường quốc doanh), không kể thời gian người lao động đã nhận trợ cấp thôi việc, mất việc làm, nhưng thấp nhất cũng bằng 2 tháng tiền lương và phụ cấp lương (nếu có);

- Được hỗ trợ thêm 1 tháng tiền lương và phụ cấp lương (nếu có) cho mỗi năm (đủ 12 tháng, số tháng lẻ cộng dồn vào giai đoạn tiếp theo) thực tế làm việc trong khu vực nhà nước;

- Được hưởng 6 tháng tiền lương và phụ cấp lương (nếu có) để đi tìm việc làm;

- Người lao động có nguyện vọng học nghề thì được đào tạo tối đa 6 tháng tại các cơ sở dạy nghề theo thông báo của cơ quan quản lý nhà nước về lao động ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Cũng theo Nghị định số 110, người lao động dôi dư đã nhận trợ cấp theo quy định trên nếu được tuyển dụng lại vào công ty, nông, lâm trường đã cho thôi việc thì phải trả lại toàn bộ số tiền đã nhận.

Trong trường hợp được tuyển dụng vào công ty, nông, lâm trường, cơ quan nhà nước khác thuộc khu vực nhà nước hoặc khi được nông, lâm trường giao đất, giao rừng thì cũng phải trả lại số tiền trợ cấp.Công ty, nông, lâm trường, cơ quan thuộc khu vực nhà nước tuyển dụng lại người lao động dôi dư hoặc nông, lâm trường giao đất, giao rừng có trách nhiệm thu lại số tiền nêu trên từ người lao động và nộp vào Quỹ Hỗ trợ sắp xếp doanh nghiệp.

Hạ sĩ quan, binh sĩ hưởng phụ cấp được thực hiện chế độ hưu trí

Ông Hoàng Minh Cường (Thái Nguyên) hỏi: Theo quy định hiện hành, thời gian thực hiện nghĩa vụ quân sự có được tính đóng BHXH để giải quyết chế độ hưu trí. Những người trước đây có đi nghĩa vụ quân sự (ví dụ trường hợp người thân của tôi nhập ngũ năm 1997, đến năm 2000 xuất ngũ thì thời gian này có được tính là thời gian tham gia BHXH để hưởng chế độ sau này không?

Trả lời:

Theo Điều lệ BHXH đối với quân nhân, công an nhân dân ban hành kèm theo Nghị định số 45/CP ngày 15/7/1995 của Chính phủ, hạ sĩ quan, binh sĩ thuộc Quân đội nhân dân; Hạ sĩ quan, chiến sĩ hưởng sinh hoạt phí thuộc Công an nhân dân trong thời gian tại ngũ được hường trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và tử tuất (đối tượng không phải đóng BHXH mà do quân đội đóng). Khi xuất ngũ, những đối tượng này được giải quyết trợ cấp xuất ngũ và thời gian tại ngũ không được tính để hưởng chế độ BHXH sau này.

Tuy nhiên kể từ ngày 1/1/2007, theo Luật BHXH, chế độ BHXH đối với những đối tượng này đã có một số thay đổi.

Theo Nghị định số 68/2007/NĐ-CP ngày 19/4/2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật BHXH về BHXH bắt buộc đối với quân nhân, công an nhân dân và người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân, công an nhân dân: NLĐ thuộc diện hưởng phụ cấp quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 2 Luật BHXH, bao gồm: Hạ sĩ quan, binh sĩ Quân đội nhân dân; Hạ sĩ quan, chiến sĩ Công an nhân dân được thực hiện các chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; hưu trí và tử tuất.

Chính sách đối với lao động dôi dư

Một số bạn đọc hỏi: Chúng tôi được biết Nhà nước vừa có quy định mới về chính sách đối với lao động dôi dư. Xin hỏi, những người làm việc theo HĐLĐ không xác định thời hạn mà thuộc diện dôi dư thì quyền lợi được giải quyết như thế nào?

Trả lời:

Ngày 26/6/2007, Chính phủ đã ban hành Nghị đinh số 110/2007/NĐ-CP về chính sách đối với NLĐ dôi dư do sắp xếp lại công ty nhà nước.

Tại Điều 3 nghị định này đã quy định rõ chính sách đối với NLĐ dôi dư đang thực hiện hợp đồng lao động không xác định thời hạn, cụ thể là:

1. Tại thời điểm cơ quan có thẩm quyền phê duyệt phương án sắp xếp lao động hoặc Toà án quyết định mở thủ tục phá sản, nam từ đủ 55 tuổi, nữ từ đủ 50 tuổi và có đủ 20 năm đóng BHXH trở lên thì được hưởng lương hưu theo quy định tại khoản 1 Điều 50 của Luật BHXH;

2. NLĐ dôi dư theo khoản 1 Điều này có tuổi đời từ đủ 55 tuổi đến dưới 60 tuổi đối với nam, từ đủ 50 tuổi đến dưới 55 tuổi đối với nữ, được hưởng thêm các khoản trợ cấp sau:

a) 3 tháng tiền lương và phụ cấp lương (nếu có) cho mỗi năm (đủ 12 tháng, không kể tháng lẻ) nghỉ hưu trước tuổi so với quy định tại điểm a khoản 1 Điều 50 của Luật BHXH;

b) 5 tháng tiền lương và phụ cấp lương (nếu có) cho 20 năm đầu làm việc có đóng BHXH. Từ năm thứ 21 trở đi, cứ mỗi năm làm việc có đóng BHXH được trợ cấp thêm 1/2 tháng tiền lương và phụ cấp lương (nếu có)

3. Đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 50 của Luật BHXH nhưng còn thiếu thời gian đóng BHXH tối đa 6 tháng để hưởng lương hưu thì được Nhà nước đóng một lần cho số tháng còn thiếu với mức đóng bằng tổng mức đóng hằng tháng của NLĐ và người sử dụng lao động theo mức tiền lương, tiên công tháng trước khi nghỉ việc vào quỹ hưu trí và tử tuất để giải quyết chế độ hưu trí.

4. Các đối tượng còn lại thì thực hiện chấm dứt hợp đồng lao động và được hưởng các chế độ sau:

a) Trợ cấp 1 tháng tiền lương và phụ cấp lương (nếu có) cho mỗi năm (đủ 12 tháng, số tháng lẻ cộng dồn vào giai đoạn tiếp theo) thực tế làm việc (có đi làm, có tên trong bảng thanh toán lương) trong khu vực nhà nước (công ty 100% vốn nhà nước; cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp của Nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang được hưởng lương từ ngân sách nhà nước; nông, lâm trường quốc doanh), không kể thời gian NLĐ đã nhận trợ cấp thôi việc, mất việc làm, nhưng thấp nhất cũng bằng 2 tháng tiền lương và phụ cấp lương (nếu có);

b) Được hỗ trợ thêm 1 tháng tiền lương và phụ cấp lương (nếu có) cho mỗi năm (đủ 12 tháng, số tháng lẻ cộng dồn vào giai đoạn tiếp theo) thực tế làm việc trong khu vực nhà nước;

c) Được hưởng 6 tháng tiền lương và phụ cấp lương (nếu có) để đi tìm việc làm;d) NLĐ có nguyện vọng học nghề thì được đào tạo tối đa 6 tháng tại các cơ sở dạy nghề theo thông báo của cơ quan quản lý nhà nước về lao động ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Quyền lợi chăm sóc thai sản và sinh đẻ khi tham gia BHYT tự nguyện

Bạn Nguyễn Thùy Linh (Hà Nội) hỏi: Chị tôi có tham gia BHYT tự nguyện. Hiện nay chị tôi đang mang thai. Vậy chị tôi có được hưởng chế độ BHYT khi khám thai hay sinh đẻ không?

Trả lời:

Vì trường hợp bạn hỏi không đủ các thông tin cần thiết nên chúng tôi không đủ cơ sở để trả lời chính xác được. Tuy nhiên, bạn có thể căn cứ vào các quy định của Thông tư liên tịch số 06/2007/TTLT-BYT-BTC ngày 30/3/2007 của liên Bộ Y tế- Tài chính hướng dẫn thực hiện BHYT tự nguyện để biết người thân của mình có đủ điều kiện hưởng chế độ hay không.

Theo Thông tư liên tịch số 06 nêu trên, thẻ BHYT có giá trị sử dụng và được hưởng các quyền lợi về chăm sóc thai sản, sinh đẻ sau 270 ngày kể từ ngày đóng BHYT đối với các trường hợp tham gia BHYT tự nguyện lần đầu hoặc tham gia lại sau một thời gian gián đoạn vì bất kỳ lý do gì.

Tuy nhiên cũng theo quy định của thông tư này, trường hợp sinh đẻ tại nhà sẽ không được cơ quan BHXH thanh toán.

Mức đóng BHXH đối với những trường hợp được tự đóng tiếp

Một số bạn đọc hỏi: Chúng tôi là cán bộ chuyên trách cấp xã, nghỉ việc trước năm 2007 và được tự đóng tiếp BHXH theo quy định để đủ điều kiện hưởng chế độ hưu trí. Chúng tôi nghe nói khi thực hiện Luật BHXH thì mức đóng BHXH (tự đóng) của chúng tôi sẽ tăng hơn so với trước đây. Xin hỏi quy định cụ thể về việc này như thế nào?
Trả lời:
Ngày 22/12/2006, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 152/2006/NĐ-CP hướng dẫn một số điều của Luật BHXH. Theo quy định tại khoản 6 Điều 58 nghị định này: Cán bộ chuyên trách cấp xã khi thôi đảm nhiệm chức vụ trước ngày 1/1/2007 mà có đủ 10 năm đóng BHXH trở lên, còn thiếu tối đa 5 năm thì đủ tuổi nghỉ hưu và đang tự đóng tiếp BHXH hằng tháng với mức đóng hằng tháng bằng tổng mức đóng của người lao động và người sử dụng lao động theo mức lương tháng trước khi thôi đảm nhiệm chức vụ vào quỹ hưu trí và tử tuất cho tổ chức BHXH nơi cư trú cho đến khi đủ 15 năm đóng BHXH và đủ 60 tuổi đối với nam, đủ 55 tuổi đối với nữ thì được hưởng chế độ hưu trí.

Ngày 30/1/2007, Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội đã có Thông tư số 03/2007/TT-BLĐTBXH hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 152 nêu trên. Thông tư này đã có hướng dẫn: Cán bộ chuyên trách cấp xã đang tự đóng tiếp BHXH hằng tháng theo quy định tại khoản 6 Điều 58 Nghị định số 152/2006/NĐ-CP thì mức đóng hằng tháng từ tháng 1/2007 đến tháng 12/2009 là 16% và từ tháng 1/2010 đến tháng 12/2011 là 18% trên mức lương tháng trước khi thôi đảm nhiệm chức vụ cho đến khi đủ 15 năm đóng BHXH và đủ 60 tuổi đối với nam, đủ 55 tuổi đối với nữ để hưởng chế độ hưu trí.

Đối tượng áp dụng Nghị định 110/2007/NĐ-CP

Ông Trần Văn Hoa (Hà Nội) hỏi: Qua Báo BHXH, tôi được biết Chính phủ mới có quy định về chính sách đối với lao động dôi dư. Xin hỏi đó là văn bản nào, áp dụng cho những đối tượng cụ thể nào?
Trả lời:

Văn bản mà ông đề cập là Nghị định số 110/2007/NĐ-CP ngày 26/6/2007 của Chính phủ về chính sách đối với người lao động dôi dư do sắp xếp lại công ty nhà nước.

Phạm vi điều chỉnh của nghị định này là:

1. Công ty nhà nước, công ty thuộc các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị- xã hội được thành lập và tổ chức hoạt động theo Luật Doanh nghiệp nhà nước (sau đây gọi chung là công ty nhà nước) thực hiện sắp xếp lại theo phương án được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, bao gồm:

a) Cổ phần hoá, giao, bán;

b) Chuyển thành công ty TNHH;

c) Giải thể, phá sản.

2. Nông trường quốc doanh thực hiện sắp xếp, tổ chức lại theo Nghị định số 170/2004/NĐ-CP ngày 22/9/2004 của Chính phủ về sắp xếp, đổi mới và phát triển nông trường quốc doanh; lâm trường quốc doanh thực hiện sắp xếp, tổ chức lại theo Nghị định số 200/2004/NĐ-CP ngày 3/12/2004 của Chính phủ về sắp xếp, đổi mới và phát triển lâm trường quốc doanh.

Đối tượng áp dụng Nghị định này là người lao động dôi dư đang thực hiện hợp đồng lao động không xác định thời hạn hoặc có thời hạn từ đủ 12 tháng đến 36 tháng, gồm:

1. Người lao động được tuyển dụng lần cuối cùng vào công ty quy định tại các điểm a và b khoản 1 Điều 1 Nghị định này trước ngày 21/4/1998 (thời điểm thực hiện Chỉ thị số 20/1998/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về đẩy mạnh sắp xếp và đổi mới doanh nghiệp nhà nước), gồm:

a) Người lao động đang làm việc, khi sắp xếp lại, công ty nhà nước đã tìm mọi biện pháp tạo việc làm, nhưng không bố trí được việc làm;

b) Người lao động có tên trong danh sách thường xuyên của công ty nhà nước nhưng không có việc làm (đang chờ việc), tại thời điểm sắp xếp lại, công ty vẫn không bố trí được việc làm.

2. Người lao động được tuyển dụng lần cuối cùng vào công ty quy định tại điểm c khoản 1 Điều 1 Nghị định này trước ngày 26/4/2002 (thời điểm có hiệu lực thi hành của Nghị định số 41/2002/NĐ-CP của Chính phủ về chính sách đối với lao động dôi dư do sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước

3. Người lao động có tên trong danh sách thường xuyên của nông, lâm trường quốc doanh quy định tại khoản 2 Điều 1 Nghị định này, được tuyển dụng lần cuối cùng vào nông, lâm trường trước ngày 21/4/1998 (riêng người lao động của nông, lâm trường quốc doanh thực hiện giải thể thì thời điểm tuyển dụng lần cuối cùng theo quy định tại khoản 2 Điều này), tại thời điểm sắp xếp lại, nông, lâm trường đã tìm mọi biện pháp tạo việc làm, nhưng không bố trí được việc làm và không thực hiện chế độ giao đất, giao rừng của nông, lâm trường.

Thủ tục ủy quyền để nhận lương hưu

Một bạn đọc (TP.HCM) hỏi: Ba tôi là cán bộ hưu trí, trước đây nhận lương hưu tại UBND phường. Vào tháng 10/2000, ba tôi xuất cảnh sang Mỹ theo diện đoàn tụ gia đình và hiện đang sinh sống tại Mỹ. Nay ba tôi có nguyện vọng ủy quyền cho tôi nhận tiền lương hưu nhưng tôi không biết phải làm những thủ tục gì?

Trả lời:

Ba bạn làm giấy ủy quyền có sự xác nhận của sứ quán Việt Nam nơi ba bạn đang cư trú. Giấy ủy quyền có giá trị 6 tháng/lần. Bạn xuất trình giấy ủy quyền này cho bộ phận phát lương hưu tại địa phương nơi ba bạn đã từng nhận lương hưu để được nhận thay.
Đóng BHXH 3 tháng có được nhận trợ cấp?

Một số bạn đọc hỏi: NLĐ có thời gian tham gia BHXH đủ ba tháng thì khi nghỉ việc có được hưởng trợ cấp BHXH? Nếu được hưởng thì mức trợ cấp là bao nhiêu?

Trả lời:

Theo qui định tại khoản 1 điều 30 Nghị định 152/2006/NĐ-CP ngày 22/12/2006 của Chính phủ, những trường hợp đủ điều kiện nhận trợ cấp BHXH gồm:

Đủ tuổi hưởng lương hưu theo qui định tại điều 26 Nghị định 152/2006/NĐ-CP mà chưa đủ 20 năm đóng BHXH.

Suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên mà chưa đủ 20 năm đóng BHXH:

Sau 12 tháng nghỉ việc nếu không tiếp tục đóng BHXH và có yêu cầu nhận BHXH một lần mà chưa đủ 20 năm đóng BHXH.

Ra nước ngoài định cư hợp pháp.

Những trường hợp nêu trên mà đóng BHXH từ đủ 3 tháng đến dưới 1 năm được hưởng BHXH một lần với mức hưởng như sau:

Bằng 0,75 tháng mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH nếu đã đóng BHXH từ đủ 3 tháng đến đủ 6 tháng;

Bằng 1,5 tháng mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH nếu đã đóng BHXH từ trên 6 tháng đến 12 tháng.

Được cấp bù kinh phí để thanh toán chế độ ốm đau, thai sản

Một số bạn đọc hỏi:Theo Luật BHXH người sử dụng lao động được giữ lại 2% tiền đóng BHXH để chi trả chế độ ốm đau, thai sản cho người lao động. Nhưng nếu số tiền mà người sử dụng lao động giữ lại không đủ chi trả cho người lao động thì xử lý như thế nào?

Trả lời:

Theo Thông tư số 03/2007/TT-BLĐTBXH ngày 30/01/2007 của Bộ lao động – Thương binh và xã hội hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định 152/2006/NĐ-CP ngày 22/12/2006 của Chính phủ (Nghị định hướng dẫn một số điều của Luật BHXH về BHXH bắt buộc) thì việc quyết toán chi trả chế độ ốm đau, thai sản theo qui định của người sử dụng lao động với tổ chức BHXH được thực hiện mỗi quý một lần.

Trường hợp số tiền quyết toán nhỏ hơn số tiền được giữ lại, thì người sử dụng lao động có trách nhiệm trả lại, thì người sử dụng lao động có trách nhiệm trả lại quỹ BHXH số dư chênh lệch vào tháng dầu quý sau.

Trong trường hợp số tiền chi trả chế độ ốm đau, thai sản cho người lao động vượt nhiều so với số tiền được giữ lại trong quý, thì người sử dụng lao động chủ động quyết toán sớm hơn với tổ chức BHXH.

Tạm dừng lương hưu, trợ cấp BHXH

Một số bạn đọc hỏi: Khi nào việc hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH bị tạm dừng?

Trả lời:

Theo Nghị định 152/2006/NĐ-CP ngày 22/12/2006 của Chính phủ (Nghị định hướng dẫn một số điều của Luật BHXH về BHXH bắt buộc), người lao động đang hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH hàng tháng khi thuộc trong các trường hợp sau đây:

- Chấp hành hình phạt tù nhưng không được hưởng án treo;

- Xuất cảnh trái phép;

- Bị tòa án tuyên bố là mất tích.

Xử phạt với mỗi hành vi vi phạm BHXH

Một số bạn đọc hỏi:Theo quy định hiện hành, các hành vi vi phạm quy định về BHXH sẽ bị xử lý như thế nào?

Trả lời:

Ngày 16/8/2007, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 135/2007/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội.

Theo đó, đối với mỗi hành vi vi phạm hành chính về pháp luật bảo hiểm xã hội, cơ quan, tổ chức, cá nhân vi phạm phải chịu một trong các hình thức xử phạt chính là cảnh cáo hoặc phạt tiền:

Tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm, cơ quan, cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội còn có thể bị áp dụng một hoặc nhiều hình thức xử phạt bổ sung sau đây:

a) Tước quyền sử dụng giấy phép hoạt động có thời hạn hoặc không thời hạn theo quy định của pháp luật;

b) Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính.

Các cơ quan, tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính bị áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khắc phục hậu quả buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm hành chính gây ra sau đây:

a) Buộc truy nộp số tiền bảo hiểm xã hội vào quỹ bảo hiểm xã hội trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định xử phạt đối với người có hành vi vi phạm về đóng bảo hiểm xã hội quy định tại Điều 134 Luật Bảo hiểm xã hội;

b) Buộc đóng số tiền lãi của số tiền bảo hiểm xã hội chưa đóng, chậm đóng theo mức lãi suất của hoạt động đầu tư từ quỹ bảo hiểm xã hội trong năm đối với người sử dụng lao động có hành vi chưa đóng, chậm đóng bảo hiểm xã hội từ 30 ngày trở lên;

c) Buộc hoàn trả số tiền bảo hiểm xã hội cho người lao động trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định xử phạt đối với người sử dụng lao động;

d) Buộc sửa lại cho đúng, nộp lại giấy tờ đã làm sai.

Ngoài ra, cơ quan, tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính còn bị áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả khác quy định tại Nghị định này.

Các đối tượng tinh giản biên chế

Ông Nguyễn Hữu Minh (Đống Đa, Hà Nội) hỏi: Qua báo chí, tôi được biết mới đây Chính phủ có quy định mới về chính sách tinh giản biên chế trong các cơ quan Nhà nước. Xin hỏi, chính sách này được áp dụng đối với những đối tượng nào?

Trả lời:

Ngày 8/8/2007, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 132/2007/NĐ-CP về chính sách tinh giản biên chế.
Nghị định này quy định về chính sách tinh giản biên chế đối với các cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập từ Trung ương đến cấp huyện; doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hoá, giao, bán, sáp nhập, hợp nhất, giải thể, phá sản hoặc chuyển thành công ty trách nhiệm hữu hạn; nông trường, lâm trường quốc doanh được sắp xếp lại theo quy định của pháp luật.
Về đối tượng áp dụng, tại Điều 2 Nghị định này đã quy định rõ, cụ thể là:
1. Cán bộ, công chức, viên chức dôi dư do sắp xếp lại tổ chức theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc do đơn vị sự nghiệp công lập sắp xếp lại tổ chức, biên chế để thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhuiệm vụ, tổ chức, biên chế và tài chính theo quy định của pháp luật.
2. Người thôi giữ chức vụ lãnh đạo, bao gồm: cán bộ do bầu cử, bổ nhiệm giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý do sắp xếp, kiện toàn lại tổ chức hoặc không tái cử nhưng chưa đến tuổi nghỉ hưu, không bố trí được vào vị trí công tác mới.
3. Cán bộ, công chức, viên chức chưa đạt trình độ chuẩn theo quy định của vị trí công việc đang đảm nhận nhưng không có vị trí công tác khác phù hợp để bố trí và không thể bố trí đào tạo lại được để chuẩn hoá về chuyên môn; những cán bộ, công chức, viên chức dôi dư do cơ cấu cán bộ, công chức, viên chức trong cơ quan, đơn vị không hợp lý và không thể bố trí, sắp xếp được công việc khác.
4. Những người không hoàn thành nhiệm vụ được giao trong hai năm liền kề gần đây do năng lực chuyên môn, nghiệp vụ yếu hoặc sức khỏe không bảo đảm hoặc do thiếu tinh thần trách nhiệm, ý thức tổ chức, kỷ luật kém nhưng chưa đến mức buộc phải thôi việc theo đánh giá của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
5. Thành viên Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc, Phó Tổng giám đốc, Giám đốc, Phó Giám đốc, Kế toán trưởng, thành viên Ban Kiểm soát của các doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hoá, giao, bán, sáp nhập, hợp nhất, giải thể, phá sản hoặc chuyển thành công ty trách nhiệm hữu hạn theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2005; Giám đốc, Phó Giám đốc, Kế toán trưởng của các nông, lâm trường quốc doanh sắp xếp lại theo quy định của Nghị định số 17012004/NĐ-CP ngày 22/9/2004 của Chính phủ về sắp xếp đổi mới và phát triển nông, lâm trường quốc doanh, Nghị định số 200/2004/NĐ-CP ngày 3/12/2004 của Chính phủ về sắp xếp, đổi mới và phát triển lâm trường quốc doanh nhưng không tiếp tục làm việc tại doanh nghiệp, nông trường, lâm trường quốc doanh đó hoặc ở khu vực Nhà nước.

Cộng thời gian đóng BHXH bắt buộc và tự nguyện để hưởng chế độ hưu trí

Bà Bùi Thị Yên (Lý Thái Tổ, Hà Nội) hỏi: Đến tháng 10 năm nay tôi đủ 55 tuổi, những mới có 17 năm 5 tháng đóng BHXH. Từ tháng 1/2007 tôi muốn ký HĐLĐ mới để để đóng BHXH tự nguyện có được không? Nếu được tiếp tục tham gia BHXH tự nguyện, đến khi đủ 20 năm đóng BHXH, tôi có được hưởng chế độ hưu trí như đối với các trường hợp tham gia BHXH bắt buộc không?

Trả lời:

Theo Luật BHXH, BHXH tự nguyện được thực hiện từ năm 2008, nên bà chưa thể tham gia từ tháng 11/2007.
Theo Luật BHXH, lao động nữ đủ 55 tuổi nhưng thời gian đóng BHXH còn thiếu không quá 5 năm so với thời gian quy định thì được đóng tiếp BHXH tự nguyện cho đến khi đủ 20 năm để được hưởng chế độ quy định.
Tại khoản 1, Điều 79 Luật BHXH đã quy định: Người lao động đóng BHXH bắt buộc sau đó đóng BHXH tự nguyện thì thời gian đóng BHXH bắt buộc được cộng với thời gian đóng BHXH tự nguyện để làm cơ sở tính hưởng chế độ hưu trí và chế độ tử tuất.

Không thuộc đối tượng áp dụng Nghị định 132

Ông Nguyễn Thái Hậu (Quốc Oai, Hà Tây) hỏi: Tôi nguyên là cán bộ UBND xã. Đầu tháng 10/2005, tôi được giải quyết chế độ nghỉ chờ hưu. Nay tôi thấy trên phương tiện thông tin đại chúng đưa tin Chính phủ ban hành Nghị định 132 về giải quyết chế độ BHXH cho người nghỉ trước tuổi. Vậy trường hợp của tôi có được áp dụng theo quy định tại nghị định này hay không?

Trả lời:
Như đã trả lời bạn đọc Nguyễn Hữu Minh, Nghị định số 132/2007/NĐ-CP ngày 8/8/2007 của Chính phủ quy định về chính sách tinh giản biên chế với phạm vi và đối tượng áp dụng cụ thể như trên.
Trường hợp của ông, đã được giải quyết chế độ từ năm 2005, theo quy định tại Nghị định số 121/2003/NĐ-CP ngày 21/10/2003 của Chính phủ về chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn; không thuộc đối tượng áp dụng Nghị định
Có thể chờ để tham gia BHXH tự nguyện

Bạn Nguyễn Minh Vũ (quận 1, TP.HCM) hỏi: Công ty chúng tôi có một lao động nữ sinh năm 1952, làm công việc vệ sinh quét rác đường phố. Đến tháng 5/2007, lao động này có thời gian đóng BHXH là 17 năm 4 tháng, theo nguyện vọng muốn tự đóng BHXH cho đủ 20 năm để hưởng chế độ hưu trí có được không?

Trả lời:

Vấn đề ông hỏi, ông Cao Văn Sang- Giám đốc BHXH TP.HCM trả lời:

Hiện nay, chế độ BHXH tự nguyện chưa thực hiện (Theo Luật BHXH, chế độ này sẽ thực hiện từ tháng 1/2008). Chế độ này áp dụng cho những người còn trong độ tuổi lao động nhưng không thuộc diện tham gia BHXH hoặc đóng BHXH đủ 15 năm đến dưới 20 năm nhưng đã hết tuổi lao động (nam 60, nữ 55 tuổi) thì được đóng tiếp BHXH tự nguyện cho đến khi đủ 20 năm.

Trường hợp bạn hỏi, người lao động đã đến tuổi nghỉ hưu (nữ 55) nhưng thời gian tham gia BHXH là 17 năm 4 tháng, chưa đủ điều kiện nhận chế độ hưu hàng tháng, nhưng đủ điều kiện tham gia BHXH tự nguyện. Từ 1/8/2007, nếu Công ty không tiếp tục ký hợp đồng lao động để được tiếp tục tham gia BHXH thì người lao động làm thủ tục chốt sổ BHXH tiếp tục tham gia BHXH tự nguyện cho đủ 20 năm để hưởng chế độ hưu trí hàng tháng.

Cách tính mức hưởng chế độ ốm đau

Ông Nguyễn Văn Mùi (Gia Lâm, Hà Nội) hỏi: Mức hưởng chế độ ốm đau của người lao động tham gia BHXH được tính như thế nào? Nếu trong tháng, người lao động nghỉ nhiều ngày thì việc đóng BHXH được thực hiện ra sao? Đơn vị sử dụng lao động có phải đóng BHXH trong thời gian người lao động nghỉ ốm không?

Trả lời:

Theo Thông tư số 03/2007/TT-BLĐTBXH ngày 30/1/2007 của Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 152/2006/NĐ-CP ngày 22/12/2006 của Chính phủ hướng dẫn một số điều của Luật BHXH về BHXH bắt buộc, mức hưởng chế độ ốm đau theo thời gian quy định được tính như sau:

Mức hưởng chế độ ốm đau = Tiền lương, tiền công đóng BHXH của tháng liền kề trước khi nghỉ việc/26 ngày x 75 (%) x Số ngày nghỉ việc được hưởng chế độ ốm đau.

Số ngày nghỉ việc được hưởng chế độ ốm đau được tính theo ngày làm việc không kể ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần.Cũng theo Thông tư số 03, thời gian người lao động nghỉ việc hưởng chế độ ốm đau từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng thì cả người lao động và người sử dụng lao động không phải đóng BHXH trong tháng đó. Thời gian này không tính là thời gian đóng BHXH.

Điều kiện về thời gian đóng BHXH để hưởng chế độ thai sản

Một bạn đọc (đề nghị không nêu tên) hỏi:Tôi nghe nói để được hưởng chế độ thai sản, người lao động phải đáp ứng điều kiện về thời gian tham gia BHXH. Xin hỏi, qui định cụ thể về vấn đề này như thế nào? Có phải sau khi sinh con nếu rủi ro người mẹ bị chết thì người bố cũng được hưởng trợ cấp để nuôi con?

Trả lời:

Theo Luật BHXH và các văn bản hướng dẫn thi hành, lao động nữ sinh con và người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 4 tháng tuổi phải đóng BHXH từ 6 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi.

Trường hợp sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi trước ngày 15 của tháng, thì tháng sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi không tính vào thời gian 12 tháng trước khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi.

Trường hợp sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi từ ngày 15 trở đi của tháng, thì tháng sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi được tính vào thời gian 12 tháng trước khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi.

Ví dụ: Chị B nghỉ việc vào tháng 8/2007 và sinh con vào ngày 16/12/2007, khoảng thời gian 12 tháng trước khi sinh con được tính từ tháng 01/2007 đến tháng 12/2007, nếu trong khoảng thời gian này chị B đã đóng BHXH từ đủ 6 tháng trở lên thì chị B được hưởng chế độ thai sản theo quy định.

Cũng theo quy định hiện hành, trường hợp mẹ chết sau khi sinh con thì cha hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng hưởng chế độ thai sản, cụ thể là:

- Trường hợp chỉ có mẹ tham gia BHXH, thì cha hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng được hưởng chế độ thai sản cho đến khi con đủ 4 tháng tuổi. Mức hưởng chế độ thai sản được tính trên cơ sở mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH của 6 tháng liền kề trước khi nghỉ việc của mẹ.

- Trường hợp cả cha và mẹ đều tham gia BHXH hoặc chỉ có cha tham gia BHXH, thì cha nghỉ việc chăm sóc con được hưởng chế độ thai sản cho đến khi con đủ 4 tháng tuổi. Mức hưởng chế độ thai sản được tính trên cơ sở mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH của 6 tháng liền kề trước khi nghỉ việc của cha.

Chế độ TNLĐ, BNN đối với quân nhân

Một số bạn đọc hỏi: Trong trường hợp nào quân nhân được hưởng trợ cấp tai nạn lao động?

Trả lời:

Tại Nghị định số 68/2007/NĐ-CP ngày 19/4/2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật BHXH về BHXH bắt buộc đối với quân nhân, công an nhân dân và người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân, công an nhân dân đã quy định:

Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp thuộc Quân đội nhân dân; Sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ và sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật thuộc Công an nhân dân; Người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân, công an nhân dân; Hạ sĩ quan, binh sĩ Quân đội nhân dân; Hạ sĩ quan, chiến sĩ Công an nhân dân (gọi chung là người lao động), nếu bị suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên do bị tai nạn thuộc một trong các trường hợp sau thì được hưởng chế độ tai nạn lao động:

1. Bị tai nạn trong huấn luyện quân sự, trong học tập, rèn luyện, công tác, lao động sản xuất, thực hiện nhiệm vụ theo yêu cầu của chỉ huy đơn vị, kể cả tại nơi làm việc hoặc ngoài nơi làm việc, trong giờ làm việc hoặc ngoài giờ làm việc.

2. Bị tai nạn trên tuyến đường đi và về từ nơi ở đến nơi làm việc, trong khoảng thời gian và tuyến đường hợp lý (Trong khoảng thời gian hợp lý là khoảng thời gian cần thiết để người lao động đến cơ quan trước giờ làm việc hoặc trở về sau giờ làm việc theo quy định hoặc ngoài giờ làm việc theo yêu cầu của người chỉ huy đơn vị; Tuyến đường hợp lý là tuyến đường thường xuyên đi và về từ nơi ở đến nơi làm việc và ngược lại).

Có thể chốt sổ chờ hưu

Bà Nguyễn Minh Thư (TPHCM) hỏi: Tôi sinh năm 1955, có thời gian đóng bảo hiểm đủ 30 năm. Nay muốn nghỉ hưu nhưng không biết khi áp dụng Luật BHXH thì tôi có đượcc làm thủ tục ngay hay không (tôi chấp nhận trừ 3% do chưa đủ tuổi)? Vì tôi nghe nói là phải bảo lưu chờ cho đến khi đủ tuổi.

Trả lời:

Vấn đề bà hỏi, ông Cao Văn Sang- Giám đốc BHXH TP.HCM trả lời:

Luật BHXH có hiệu lực từ 1/1/2007 không còn áp dụng chế độ hưu trí cho những người có đủ 30 năm đóng BHXH, nam độ 55 tuổi, nữ đủ 50 tuổi. Vì vậy, trường hợp của chị mới 52 tuổi chưa đủ điều kiện hưởng chế độ hưu trí. Nếu sức khỏe kém, chị có thể xin giám định sức khỏe. Nếu Hội đồng giám định y khoa kết luận tỉ lệ suy giảm khả năng lao động trên 61% thì chị được nhận chế độ hưu trước tuổi. Mỗi năm nghỉ trước tuổi bị trừ 1%.

Trường hợp giám định y khoa có tỉ lệ 61% mà phải nghỉ việc thì chị chốt sổ và chờ đến năm 55 tuổi (đủ tuổi về hưu) để làm thủ tục nhận chế độ hưu trí.

Quyền lợi khi tham gia BHYT tự nguyện

Bà Nguyễn Thị Vân (Hà Tây) hỏi: Khi tham gia BHYT tự nguyện, người tham gia được hưởng những quyền lợi gì?

Trả lời:

Tại điểm b, khoản 1, mục III Thông tư liên tịch số 06/2007/TTLT-BYT-BTC ngày 30/3/2007 của Bộ Y tế- Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện BHYT tự nguyện đã quy định: Người có thẻ BHYT khi KCB ngoại trú, nội trú tại các cơ sở KCB công lập và ngoài công lập (cơ sở KCB BHYT) được cơ quan BHXH thanh toán chi phí khi sử dụng các dịch vụ sau:

Khám bệnh, chẩn đoán, điều trị và phục hồi chức năng trong thời gian điều trị tại cơ sở KCB (theo danh mục do Bộ Y tế quy định); Xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh, thăm dò chức năng; Thuốc, dịch truyền theo danh mục do Bộ Y tế quy định; Máu và các chế phẩm của máu; Các phẫu thuật, thủ thuật; Chăm sóc thai sản và sinh đẻ; Sử dụng vật tư, thiết bị ytế và giường bệnh.

c) Người tham gia BHYT tự nguyện khi KCB tại nơi đăng ký KCB ban đầu và ở cơ sở KCB khác theo giới thiệu chuyển viện phù hợp với tuyến chuyên môn kỹ thuật theo quy định của Bộ Y tế và trong các trường hợp cấp cứu tại các cơ sở KCB BHYT, được cơ quan BHXH thanh toán chi phí sử dụng các dịch vụ quy định tại điểm b, khoản 1 mục này theo giá viện phí hiện hành của nhà nước, cụ thể:

c1. KCB ngoại trú:

+ Được thanh toán 100% chi phí khi có chi phí dưới 100.000 đồng cho một đợt KCB ngoại trú;

+ Được thanh toán 80% chi phí KCB ngoại trú khi có chi phí từ 100.000 đồng trở lên; phần còn lại do người bệnh tự thanh toán với cơ sở KCB.

c 2. Khám, chữa bệnh nội trú:

+ Được thanh toán 80% chi phí khám, chữa bệnh nội trú; phần còn lại do người bệnh tự thanh toán với cơ sở KCB.

d) Trường hợp sử dụng dịch vụ kỹ thuật cao có chi phí lớn(theo danh mục do Bộ Y tế ban hành sau khi thống nhất với Bộ Tài chính),được cơ quan BHXH thanh toán 80% chi phí nhưng không quá 20.000.000 đồng cho một lần sử dụng dịch vụ kỹ thuật đó; phần còn lại do người bệnh tự thanh toán với cơ sở KCB.

đ) Người tham gia BHYT tự nguyện khi KCB theo yêu cầu riêng, KCB tại cơ sở ytế không ký hợp đồng KCB BHYT, KCB ở nước ngoài, được cơ quan BHXH thanh toán theo chi phí thực tế theo tỷ lệ quy định tại điểm c và d của khoản này nhưng không vượt quá mức quy định tại Phụ lục của Thông tư này.

e) Đối với học sinh, sinh viên: Khi tham gia BHYT tự nguyện, ngoài quyền lợi KCB được hưởng theo quy định tại các điểm c và đ khoản này còn được hưởng quyền lợi về chăm sóc sức khỏe ban đầu tại y tế trường học theo quy định hiện hành. Trường hợp tử vong được trợ cấp 1.000.000 đồng.

BHYT cho thân nhân làm công tác cơ yếu

Ông Trần Văn Tiến (Phủ Lý, Hà Nam) hỏi: Có phải thân nhân người làm công tác cơ yếu được hưởng chế độ BHYT bắt buộc? Đây có phải chế độ mà thân nhân người làm công tác cơ yếu được hưởng suốt đời?

Trả lời:

Theo Nghị định số 153/2006/NĐ-CP ngày 22/12/2006 của Chính phủ, thân nhân của người đang làm công tác cơ yếu là sĩ quan đang công tác tại Ban Cơ yếu Chính phủ và người đang làm công tác cơ yếu hưởng lương theo bảng lương cấp bậc quân hàm sĩ quan quân đội nhân dân không thuộc diện tham gia BHYT bắt buộc khác (bao gồm các đối tượng: bố đẻ, mẹ đẻ; bố đẻ, mẹ đẻ của vợ hoặc chồng; bố nuôi, mẹ nuôi của bản thân, của vợ hoặc chồng; vợ hoặc chồng; con đẻ, con nuôi dưới 18 tuổi; con đẻ, connuôi từ đủ 18 tuổi trở lên nhưng bị tàn tật mất khả năng lao động theo quy định của pháp luật) được hưởng chế độ BHYT bắt buộc.

Thân nhân người đang làm công tác cơ yếu được cấp thẻ BHYT theo quy định tại Nghị địnhnày được hưởng chế độ khám bệnh, chữa bệnh theo quy định tại Điều lệ BHYT ban hành kèm theo Nghị định số 63/2005/NĐ-CP ngày 16/5/2005 của Chính phủ. Cũng theo Nghị định số 153 nêu trên, khi người đang làm công tác cơ yếu nghỉ hưu, chuyển ngành, thôi việc; bị kỷ luật cho ra khỏi ngành cơ yếu hoặc bị chết thì thân nhân của họ chỉ được hưởng chế độ BHYT theo quy định tại Nghị định này cho đến thời điểm thẻ BHYT đã cấp hết giá trị sử dụng.
Chế độ thai sản tính theo mức lương bình quân

Bạn Nguyễn Hồng Vân (Công ty dịch vụ cơ quan nước ngoài) hỏi: Năm 2006 tôi đóng BHXH với mức lương cao hơn 9 triệu. Tôi mang thai vào tháng 7/2006 và sẽ sinh con vào khoảng tháng 2/2007. Vậy trợ cấp thai sản tôi sẽ được nhận như thế nào?
Trả lời:
Theo quy định của Luật BHXH mức lương làm cơ sở tính trợ cấp thai sản là lương bình quân đóng BHXH 6 tháng trước khi nghỉ sinh. Nếu bạn sinh con tháng 2/2007, mức lương để tính chế độ thai sản được tính bình quân của mức lương nộp BHXH của tháng 8, 9, 10, 11, 12 năm 2006 và tháng 1/2007. Dù mức lương thực tế của chị trên 9 triệu đồng/tháng thì từ tháng 1/2007 mức lương nộp BHXH chỉ được tính 9 triệu đồng.

Nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe

Một số bạn đọc hỏi: Việc nghỉ dưỡng sức phục hồi sức khỏe đối với người lao động được thực hiện từ năm 2007 như thế nào?
Trả lời:

Theo Nghị định 152/2006/NĐ-CP ngày 22/12/2006 của Chính phủ hướng dẫn một số điều của Luật BHXH về BHXH bắt buộc:
Thời gian nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe trong một năm tính có ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hàng tuần, ngày đi và về nếu nghỉ tại cơ sở tập trung số ngày nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ do người sử dụng lao động và Ban Chấp hành Công đoàn cơ sở hoặc Ban Chấp hành Công đoàn lâm thời quyết định, cụ thể như sau:
- Tối đa 10 ngày đối với người lao động sức khoẻ còn yếu sau thời gian ốm đau do mắc bệnh cần chữa trị dài ngày;
- Tối đa 7 ngày đối với người lao động sức khỏe còn yếu sau thời gian ốm đau do phải phẫu thuật;
- Bằng 5 ngày đối với các trường hợp khác.
Mức hưởng dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ một ngày:
- Bằng 25% mức lương tối thiểu chung nếu nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe tại gia đình;
- Bằng 40% mức lương tối thiểu chung nếu nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ tại cơ sở tập trung, mức hưởng này tính cả tiền đi lại; tiền ăn và ở.

Không được tính thời gian hưởng BHXH

Ông Kiều Tấn Lực (phường Trường Thọ, Thủ Đức, TPHCM) hỏi: Tôi tham gia lực lượng thanh niên xung phong (TNXP) từ năm 1986 đến tháng 8/1989 thì xuất ngũ và nhận trợ cấp khoảng 8.000 đồng. Đến tháng 1/1990 tôi được ký HĐLĐ với Xí nghiệp vật tư vận tải – Công ty điện lực 2 và làm việc cho đến nay. Vậy thời gian tôi tham gia lực lượng TNXP có được cộng nối vào thời gian công tác hiện nay để tính thời gian tham gia BHXH không?
Trả lời:

Theo công văn số 3634/LĐ-TBXH ngày 9/10/1997 của Bộ LĐTB&XH và Chỉ thị số 460/Ttg ngày 23/9/1978 của Thủ tướng Chính phủ, TNXP sau khi hết nhiệm kỳ phục vụ được tuyển ngay vào cơ quan, doanh nghiệp Nhà nước thì được tính thời gian để hưởng BHXH kể từ ngày được tuyển vào TNXP.
Trường hợp của ông sau khi hết thời gian phục vụ đã được hưởng trợ cấp xuất ngũ. Một thời gian sau mới được tuyển vào doanh nghiệp Nhà nước nên không được tính thời gian phục vụ lực lượng TNXP để hưởng BHXH

Hưởng trợ cấp một lần theo Luật BHXH

Một số bạn đọc hỏi: Chúng tôi đã nghỉ làm việc và thôi đóng BHXH từ cuối năm 2006. Nếu chúng tôi muốn nhận trợ cấp một lần thì phải chờ đến bao giờ, mức trợ cấp tính như thế nào?

Trả lời:

Nghị định 152/2006/NĐ-CP ngày 22/12/2006 của Chính phủ hướng dẫn một số điều của Luật BHXH về BHXH bắt buộc có quy định: Người lao động bảo lưu thời gian đóng BHXH trước ngày 1/1/2007 thì trợ cấp BHXH một lần khi không đủ điều kiện hưởng lương hưu được giải quyết theo quy định tại Điều 30 Nghị định này.
Theo Điều 30, điều kiện hưởng BHXH một lần với trường hợp như trên là: Sau 12 tháng nghỉ việc nếu không tiếp tục đóng BHXH và có yêu cầu nhận BHXH một lần.
Mức hưởng BHXH một lần được tính theo số năm đã đóng BHXH, cứ mỗi năm tính bằng 1,5 tháng mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH.Khi tính mức hưởng BHXH một lần, nếu thời gian đóng BHXH có tháng lẻ dưới 3 tháng thì không tính; từ đủ 3 tháng đến đủ 6 tháng tính là nửa năm; từ trên 6 tháng đến 12 tháng tính tròn một năm.

Đóng tiếp đến khi đủ 15 năm đóng BHXH

Bà Vũ Thị Oanh (Thanh Hoá) hỏi: Tôi nguyên là Chủ tịch Hội phụ nữ xã (cán bộ chuyên trách). Năm ngoái tôi xin nghỉ công tác và được tự đóng tiếp BHXH để đến khi đủ tuổi để được hưởng chế độ hưu trí. Nay nếu theo Luật BHXH thì việc tự đóng BHXH của tôi có gì thay đổi không?

Trả lời:

Theo Nghị định 152/2006/NĐ-CP ngày 22/12/2006 của Chính phủ hướng dẫn một số điều của Luật BHXH về BHXH bắt buộc, cán bộ chuyên trách cấp xã khi thôi đảm nhiệm chức vụ trước ngày 1/1/2007 mà có đủ 10 năm đóng BHXH trở lên, còn thiếu tối đa 5 năm thì đủ tuổi nghỉ hưu và đang tự đóng tiếp BHXH hằng tháng với mức đóng hằng tháng bằng tổng mức đóng của người lao động và người sử dụng lao động theo mức lương tháng trước khi thôi đảm nhiệm chức vụ vào quỹ hưu trí và tử tuất cho tổ chức BHXH nơi cư trú cho đến khi đủ 15 năm đóng BHXH và đủ 60 tuổi đối với nam, đủ 55 tuổi đối với nữ thì được hưởng chế độ hưu trí.

Nghỉ thai sản sau khi bị tai nạn

Bạn Nguyễn Thị Lành (KCX Linh Trung) hỏi: tôi có thai, sắp sinh con. Được biết theo Luật BHXH thì người bị thương tật 21% trở lên được nghỉ sau khi sinh 6 tháng. Trước đây, tôi đã bị tai nạn giao thông gãy chân nay đã lành. Xin hói có được nghỉ thai sản 6 tháng không?

Trả lời:

Theo quy định của luật BHXH và Nghị định 152/2006/NĐ CP hướng dẫn một số điều của Luật BHXH thì lao động nữ là người tàn tật có mức suy giảm khả năng lao động từ 21% trở lên được nghỉ thai sản 6 tháng. Trường hợp của chị chưa được xác định mức suy giám khả năng lao động do chấn thương, nên chưa thể khắng định sẽ được nghr 6 tháng. Hiện nay, chưa có hướng dẫn gì về trường hợp này. Có lẽ chị nên xin giám định khả năng lao động do thương tật tại Hội đồng giám định y khoa thành phố để có thể được nghỉ đủ tiêu chuẩn.

Thanh toán chi phí KCB nước ngoài

Ông Nguyễn Vũ Ninh (Ba Đình, Hà Nội) hỏi: Vừa qua người thân của tôi (có thẻ BHYT) đi phẫu thuật ở Singapore. Trong trường hợp này, người thân của tôi có được hưởng chế độ gì về BHYT không?

Trả lời:

Theo Thông tư liên tịch số 21/2005/TTLB- BYT-BTC ngày 27/7/2005 của liên Bộ: Tài chính- Y tế hướng dẫn thực hiện BHYT bắt buộc, trường hợp KCB ở nước ngoài thì được cơ quan BHXH thanh toán theo mức chi phí bình quân của các bệnh viện tuyến trung ương trên địa bàn Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh.
Cũng theo Thông tư này, đối với các cơ sở KCB trên địa bàn thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, mức thanh toán cho các tuyến được tính bằng 1,2 lần mức quy định cho các tuyến tương đương (Trong trường hợp điều trị nội trú, chi phí bình quân của tuyến trung ương là 900.000 đồng).

(theo www.bhxhgl.org.vn)

Dự thảo nghị định Sửa đổi, bổ sung Nghị định số 63/2005/NĐ-CP

NGHỊ ĐỊNH
Sửa đổi, bổ sung một số điều của Điều lệ Bảo hiểm y tế ban hành kèm theo Nghị định số 63/2005/NĐ-CP ngày 16/5/2005 của Chính phủ
_______________________________

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Y tế và Bộ trưởng Bộ Tài chính,

NGHỊ ĐỊNH:

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Điều lệ Bảo hiểm y tế (BHYT) ban hành kèm theo Nghị định số 63/2005/NĐ-CP ngày 16 tháng 5 năm 2005 của Chính phủ như sau:
1. Sửa đổi khoản 8, khoản 10, khoản 11, khoản 12 và bổ sung khoản 15 của Điều 3. Đối tượng thực hiện bảo hiểm y tế bắt buộc như sau:
“8. Thân nhân sỹ quan, hạ sỹ quan, binh sỹ và quân nhân chuyên nghiệp thuộc Quân đội nhân dân đang tại ngũ; thân nhân sỹ quan, hạ sỹ quan, chiến sỹ nghiệp vụ, sỹ quan, hạ sỹ quan, chiến sỹ chuyên môn kỹ thuật đang công tác trong lực lượng Công an nhân dân; thân nhân của sỹ quan đang làm công tác cơ yếu tại Ban cơ yếu Chính phủ và thân nhân của người đang làm công tác cơ yếu hưởng lương theo bảng lương cấp bậc quân hàm sỹ quan quân đội nhân dân và bảng lương quân nhân chuyên nghiệp thuộc quân đội nhân dân không thuộc các đối tượng tham gia bảo hiểm y tế bắt buộc khác quy định tại Điều này.
10. Người cao tuổi cô đơn, không nơi nương tựa; người từ 85 tuổi trở lên không có lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội theo quy định tại Nghị định số 67/2007/NĐ-CP ngày 13/4/2007 của Chính phủ hướng dẫn về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội.
11. Người thuộc hộ nghèo theo chuẩn nghèo quy định tại Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg ngày 08/7/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006-2010; đồng bào dân tộc thiểu số thuộc hộ có thu nhập bình quân từ trên 1 đến 1,5 lần so với chuẩn nghèo quy định tại Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg ngày 08/7/2005 của Thủ tướng Chính phủ (sau đây gọi là hộ cận nghèo) đang sinh sống tại các xã đặc biệt khó khăn, xã thuộc khu vực II và III theo quy định của Uỷ ban dân tộc về việc công nhận 3 khu vực vùng dân tộc thiểu số và miền núi theo trình độ phát triển.
12. Cựu chiến binh đã tham gia kháng chiến từ ngày 30 tháng 4 năm 1975 trở về trước không thuộc các đối tượng đã tham gia bảo hiểm y tế bắt buộc theo quy định tại khoản 6- Điều 5 của Nghị định số 150/2006/NĐ-CP ngày 12 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh cựu chiến binh.
15. Trẻ em dưới sáu tuổi.
2. Sửa đổi khoản 3, khoản 4 của Điều 6. Thẻ bảo hiểm y tế như sau:
“3. Thẻ bảo hiểm y tế có giá trị sử dụng ngay và liên tục khi đóng BHYT đúng quy định. Việc cấp thẻ, thay thẻ, đổi thẻ phải đảm bảo tính kịp thời, liên tục, không làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người tham gia BHYT. Riêng với đối tượng là trẻ em dưới sáu tuổi, thẻ được cấp một lần và có giá trị sử dụng cho đến khi trẻ đủ 72 tháng tuổi.
“4. Đối với người tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện:
a) Thẻ bảo hiểm y tế có giá trị sử dụng và được hưởng các quyền lợi theo quy định (trừ các quyền lợi quy định tại khoản (b) và khoản (c) Điều này) sau 30 ngày (ba mươi ngày) kể từ ngày đóng bảo hiểm y tế đối với các trường hợp tham gia bảo hiểm y tế lần đầu hoặc tham gia lại sau một thời gian gián đoạn vì bất kỳ lý do gì.
b) Thẻ bảo hiểm y tế có giá trị sử dụng và được hưởng các quyền lợi trong trường hợp sử dụng dịch vụ kỹ thuật cao, chi phí lớn sau 180 ngày (một trăm tám mươi ngày) kể từ ngày đóng bảo hiểm y tế đối với các trường hợp tham gia bảo hiểm y tế lần đầu hoặc tham gia lại sau một thời gian gián đoạn vì bất kỳ lý do gì.
c) Thẻ bảo hiểm y tế có giá trị sử dụng và được hưởng các quyền lợi về chăm sóc thai sản, sinh đẻ sau 270 ngày (hai trăm bảy mươi ngày) kể từ ngày đóng bảo hiểm y tế đối với các trường hợp tham gia bảo hiểm y tế lần đầu hoặc tham gia lại sau một thời gian gián đoạn vì bất kỳ lý do gì.
3. Sửa đổi, bổ sung khoản 8 của Điều 7. Phạm vi quyền lợi của người tham gia bảo hiểm y tế bắt buộc như sau:
“8. Hỗ trợ chi phí vận chuyển trong trường hợp cấp cứu phải chuyển tuyến chuyên môn kỹ thuật theo quy định của Bộ Y tế từ bệnh viện tuyến huyện trở lên đối với những người bệnh thuộc diện hộ nghèo, diện chính sách xã hội, người sinh sống hay công tác ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa.
Bộ Y tế ban hành danh mục thuốc, vật tư y tế, danh mục các dịch vụ kỹ thuật và phục hồi chức năng thuộc phạm vi quyền lợi bảo hiểm y tế, đáp ứng yêu cầu điều trị bệnh, phù hợp với chính sách thuốc quốc gia và khả năng thanh toán của Quỹ bảo hiểm y tế. Các danh mục được xem xét, bổ sung định kỳ theo mức độ mở rộng phạm vi quyền lợi của người tham gia bảo hiểm y tế và ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ trong từng lĩnh vực.
4. Sửa đổi Điều 8. Thanh toán chi phí khám chữa bệnh của người tham gia bảo hiểm y tế bắt buộc như sau:
1. Quỹ bảo hiểm y tế thanh toán toàn bộ chi phí khám, chữa bệnh của người tham gia BHYT bắt buộc theo quy định tại Điều 7 của Điều lệ này theo giá viện phí hiện hành của Nhà nước nếu tổng chi phí khám, chữa bệnh trong một đợt điều trị không vượt quá 100.000 đồng đối với điều trị ngoại trú và không vượt quá 200.000 đồng đối với điều trị nội trú.
2. Quỹ bảo hiểm y tế thanh toán 80% chi phí khám chữa bệnh theo giá viện phí hiện hành của Nhà nước nếu tổng chi phí khám chữa bệnh trong một đợt điều trị vượt quá 100.000 đồng đối với điều trị ngoại trú và vượt quá 200.000 đồng đối với điều trị nội trú; phần 20% chi phí còn lại do người bệnh tự thanh toán với cơ sở khám chữa bệnh, trừ các đối tượng quy định tại khoản 3 Điều này. Trường hợp số tiền 20% mà người bệnh tự thanh toán vượt quá 10 tháng lương tối thiểu hiện hành thì Quỹ BHYT sẽ thanh toán toàn bộ chi phí cho các đợt điều trị tiếp theo.
3. Người bệnh bảo hiểm y tế không phải tự thanh toán 20% chi phí khám chữa bệnh theo quy định tại khoản 2 Điều này nếu thuộc một trong các đối tượng sau:
a) Trẻ em dưới sáu tuổi,
b) Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945 và người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến trước ngày tổng khởi nghĩa 19 tháng 8 năm 1945;
c) Bà mẹ Việt Nam anh hùng, Anh hùng lực lượng vũ trang, Anh hùng lao động,
d) Thương binh bị mất sức lao động từ 81% trở lên, người hưởng chính sách như thương binh bị mất sức lao động từ 81% trở lên;
đ) Thương binh, bệnh binh điều trị vết thương, bệnh tật tái phát;
e) Người cao tuổi từ 85 tuổi trở lên và người cao tuổi tàn tật, không nơi nương tựa;
g) Người tham gia kháng chiến và con đẻ của họ bị nhiễm chất độc hoá học;
h) Các đối tượng bảo trợ xã hội hưởng trợ cấp hàng tháng;
i) Người đang hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hàng tháng;
k) Người thuộc hộ nghèo.
4. Liên Bộ Y tế và Bộ Tài chính quy định cụ thể về điều kiện được hưởng và mức thanh toán của Quỹ bảo hiểm y tế trong trường hợp người bệnh có thẻ bảo hiểm y tế sử dụng thuốc điều trị ung thư, thuốc chống thải ghép ngoài danh mục quy định của Bộ Y tế nhưng không quá 50% chi phí của các thuốc này và thực hiện theo nguyên tắc quy định tại khoản 1, 2 Điều này.
5. Sửa đổi khoản 1, 2, 4, 5 và khoản 8 Điều 12. Các trường hợp không được Quỹ bảo hiểm y tế thanh toán như sau:
“Quỹ Bảo hiểm y tế không thanh toán chi phí trong các trường hợp sau:
1. Chi phí chẩn đoán, điều trị bệnh phong; chi phí thuốc đặc hiệu điều trị các bệnh: lao, sốt rét, tâm thần phân liệt, động kinh; thuốc kháng HIV và các bệnh hay các thuốc khác nếu đã được ngân sách nhà nước hay các nguồn tài chính khác chi trả.
2. Xét nghiệm HIV tự nguyện, xét nghiệm HIV bắt buộc trong các trường hợp có trưng cầu giám định tư pháp hoặc có quyết định của cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát nhân dân hoặc Tòa án nhân dân.
4. Các dịch vụ, phẫu thuật thẩm mỹ; làm chân, tay giả; mắt giả; răng giả; kính mắt các loại; máy trợ thính; điều trị lác, cận thị và các tật khúc xạ của mắt; lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người.
5. Điều trị bệnh nghề nghiệp, tai nạn lao động, tai nạn chiến tranh, tai nạn do thiên tai, thảm họa.
8. Các trường hợp khám bệnh, chữa bệnh, phục hồi chức năng và sinh đẻ tại nhà; các dịch vụ kỹ thuật hay phương pháp can thiệp chưa được phép áp dụng trong chẩn đoán và điều trị theo quy định của Bộ Y tế; các trường hợp tham gia thử nghiệm lâm sàng, nghiên cứu khoa học; các dịch vụ kỹ thuật chưa được cấp có thẩm quyền phê duyệt giá theo quy định về thu viện phí.
6. Sửa đổi khoản 4 Điều 15. Mức đóng bảo hiểm y tế và trách nhiệm đóng bảo hiểm y tế bắt buộc như sau:
“4. Mức đóng của các đối tượng quy định tại khoản 10 (người nghèo) và khoản 11 (người cao tuổi), Điều 3 của Điều lệ Bảo hiểm y tế cho năm 2007 là 80.000 đồng/người/năm; mức đóng của đối tượng quy định tại khoản 15 (trẻ em dưới sáu tuổi), Điều 3 của Điều lệ Bảo hiểm y tế cho năm 2007 là 108.000 đồng/người/năm. Mức đóng của các nhóm đối tượng này trong các năm tiếp theo là 3% mức lương tối thiểu hiện hành và do ngân sách nhà nước đảm bảo. Liên Bộ Y tế- Tài chính hướng dẫn cụ thể quy trình, thủ tục và phương thức đóng bảo hiểm y tế cho các nhóm đối tượng này.
7. Sửa đổi, bổ sung Điều 21. Quản lý và sử dụng quỹ BHYT
“1. Quỹ bảo hiểm y tế được quản lý tập trung, thống nhất, công khai, minh bạch và được Nhà nước bảo hộ.
2. Liên Bộ Tài chính- Y tế hướng dẫn chi tiết về quản lý, sử dụng Quỹ bảo hiểm y tế và trình Chính phủ xem xét, quyết định áp dụng kịp thời các biện pháp để đảm bảo cân đối thu, chi của Quỹ bảo hiểm y tế và quyền lợi của người tham gia bảo hiểm y tế.
8. Sửa đổi, bổ sung Điều 22. Chế độ kế toán và báo cáo tài chính như sau:
“Điều 22. Chế độ kế toán, kiểm toán và báo cáo tài chính
Tổ chức thực hiện chính sách bảo hiểm y tế phải thực hiện chế độ kế toán tài chính của quỹ Bảo hiểm y tế và chế độ kiểm toán theo quy định của pháp luật. Hàng năm báo cáo cơ quan quản lý nhà nước về bảo hiểm y tế về tình hình tài chính của Quỹ và các giải pháp đảm bảo cân đối Quỹ bảo hiểm y tế.
9. Sửa đổi khoản 5 Điều 25- Đối tượng, nguyên tắc thực hiện bảo hiểm y tế tự nguyện như sau:
“5. Đối tượng tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện được nhà nước hỗ trợ mức đóng. Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương bố trí trong nguồn ngân sách địa phương và huy động sự đóng góp của các cơ quan, tổ chức, cá nhân để hỗ trợ tối thiểu 30% mức đóng bảo hiểm y tế tự nguyện cho đối tượng thuộc hộ cận nghèo. Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chỉ đạo việc phối hợp giữa các ban, ngành và Bảo hiểm xã hội địa phương trong việc xác định đối tượng, đề xuất mức hỗ trợ và dự toán ngân sách hỗ trợ cần thiết để trình Uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định.

Điều 2. Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2008. Bãi bỏ Điều 18 của Nghị định số 36/2005/NĐ-CP ngày 17/3/2005 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.

Điều 3. Bộ Y tế chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính và các Bộ, ngành liên quan hướng dẫn thi hành Nghị định này.

Điều 4. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Bảo hiểm xã hội Việt Nam chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này./.

TM. CHÍNH PHỦ

THỦ TƯỚNG

Luật Bảo hiểm y tế (dự thảo)

Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 10;

Luật này quy định về Bảo hiểm y tế.

Chương I

Những quy định chung
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Dự thảo Luật Bảo hiểm y tế

1. Luật này quy định về chế độ, chính sách bảo hiểm y tế; quyền và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia Bảo hiểm y tế; tổ chức Bảo hiểm y tế; quỹ Bảo hiểm y tế; thủ tục thực hiện Bảo hiểm y tế; quản lý nhà nước về Bảo hiểm y tế (BHYT).

2. Luật này không áp dụng đối với BHYT mang tính kinh doanh

Điều 2. Đối tượng áp dụng

Luật này áp dụng với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước và người nước ngoài có liên quan đến BHYT.

Điều 3. Giải thích từ ngữ

Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. Bảo hiểm y tế là một chính sách xã hội do Nhà nước tổ chức thực hiện, nhằm bảo đảm thanh toán chi phí khám, chữa bệnh theo quy định của Luật này cho người có thẻ BHYT.

2. BHYT bắt buộc là hình thức BHYT mà tổ chức, cơ quan, cá nhân phải tham gia.

3. BHYT tự nguyện là hình thức BHYT được thực hiện trên cơ sở tự nguyện của người tham gia.

4. Thân nhân là cha, mẹ đẻ; cha, mẹ đẻ của vợ hoặc chồng; cha mẹ nuôi hoặc người nuôi dưỡng hợp pháp của vợ hoặc chồng; vợ hoặc chồng, con đẻ con nuôi chưa đủ 18 tuổi; con đẻ, con nuôi đủ 18 tuổi trở lên bị tàn tật mất khả năng lao động.

5. Hộ gia đình bao gồm những người có quan hệ về gia đình, cùng ở chung một nhà và có một sổ hộ khẩu gia đình.

6. Quỹ BHYT là quỹ tài chính được hình thành từ nguồn đóng BHYT và các nguồn thu hợp pháp khác, được sử dụng để chi trả chi phí khám, chữa bệnh cho người tham gia BHYT và những khoản chi phí hợp pháp khác theo quy định.

7. Dịch vụ kỹ thuật cao là những dịch vụ áp dụng hoặc sử dụng kỹ thuật y tế phức tạp, chuyên khoa sâu, khi thực hiện đòi hỏi người thực hiện phải có trình độ, kỹ năng tay nghề cao, phải sử dụng các vật tư, trang thiết bị y tế hiện đại.

8. Thanh toán theo phí dịch vụ là hình thức thanh toán dựa trên giá viện phí.

9. Thanh toán theo định suất là hình thức thanh toán dựa trên mức phí xác định tính trên mỗi đầu thẻ đăng ký tại cơ sở khám, chữa bệnh BHYT trong một khoảng thời gian nhất định.

10. Thanh toán theo ca bệnh là hình thức thanh toán dựa trên mức phí xác định đối với từng loại bệnh hay nhóm bệnh cụ thể đã được chẩn đoán xác định.

11. Cùng chi trả là hình thức chia sẻ chi phí khám, chữa bệnh giữa người tham gia BHYT với Quỹ BHYT.

12. Thanh toán trực tiếp là hình thức thanh toán do tổ chức BHYT thanh toán trực tiếp bằng tiền cho người tham gia BHYT.

13. Người sử dụng lao động tham gia BHYT bắt buộc là cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân; tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội khác; cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam; doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn, sử dụng và trả công cho người lao động.

14. Người lao động tham gia BHYT bắt buộc là người làm việc có giao kết hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ ba tháng trở lên theo quy định của pháp luật về lao động và cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức.

15. Đối tượng tham gia BHYT là người lao động tham gia bảo hiểm y tế bắt buộc, người tham gia bảo hiểm y tế bắt buộc hoặc tự nguyện khác được hưởng chế độ BHYT.

16. Cơ sở KCB ban đầu là nơi người tham gia BHYT đăng ký để được khám, chữa bệnh.
Điều 4. Nguyên tắc Bảo hiểm y tế

1. Chia sẻ rủi ro giữa những người tham gia BHYT trên cơ sở lấy số đông bù số ít.

2. Mức đóng được xác định theo nhóm đối tượng. Nhà nước hỗ trợ mức đóng cho một số nhóm đối tượng.

3. Mức hưởng theo mức độ bệnh tật và trong phạm vi quyền lợi của người tham gia BHYT.

4. Hoạt động không vì mục đích lợi nhuận.

5. Quỹ BHYT được quản lý tập trung, thống nhất, công khai, minh bạch, bảo đảm cân đối thu chi và được Nhà nước bảo hộ.
Điều 5. Chính sách của nhà nước đối với Bảo hiểm y tế

1. Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện để cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia BHYT.

2. Nhà nước có chính sách ưu tiên đầu tư quỹ BHYT và các biện pháp cần thiết khác để bảo toàn, tăng trưởng quỹ. Quỹ BHYT được nhà nước bảo hộ, không bị phá sản. Tiền sinh lời của hoạt động đầu tư từ quỹ BHYT được miễn thuế. Tiền sinh lời của hoạt động đầu tư từ quỹ BHYT được miễn thuế.

3. Nhà nước khuyến khích đầu tư phát triển công nghệ và phương tiện kỹ thuật tiên tiến để bảo đảm áp dụng phương pháp quản lý BHYT hiện đại.
Điều 6. Nội dung quản lý nhà nước về Bảo hiểm y tế

1. Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, chế độ, chính sách BHYT.

2. Ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về BHYT.

3. Tuyên truyền, phổ biến chế độ, chính sách, pháp luật về BHYT.

4. Thực hiện công tác thống kê, thông tin về BHYT.

5. Tổ chức bộ máy thực hiện BHYT, nghiên cứu khoa học, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác BHYT.

6. Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về BHYT, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về BHYT.

7. Hợp tác quốc tế về BHYT.
Điều 7. Cơ quan quản lý nhà nước về Bảo hiểm y tế

1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về BHYT.

2. Bộ Y tế chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về BHYT theo quy định tại Điều 8 của Luật này.

3. Các Bộ, cơ quan ngang bộ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về BHYT trong phạm vi chức năng nhiệm vụ và quyền hạn của mình và có trách nhiệm phối hợp với Bộ Y tế trong quản lý nhà nước về BHYT.

4. UBND các cấp thực hiện quản lý nhà nước về BHYT trong phạm vi địa phương theo phân cấp của Chính phủ theo quy định tại Điều 9 của Luật này.

Điều 8. Trách nhiệm quản lý nhà nước về Bảo hiểm y tế của Bộ Y tế

1. Chủ trì, phối hợp xây dựng chính sách, pháp luật về BHYT trình cấp có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền.

2. Xây dựng kế hoạch, chiến lược phát triển BHYT trình cấp có thẩm quyền ban hành.

3. Xây dựng và ban hành quy chuẩn chuyên môn, kỹ thuật đối với các cơ sở y tế đủ điều kiện KCB cho người có thẻ BHYT; danh mục thuốc, vật tư y tế, dịch vụ kỹ thuật được quỹ BHYT thanh toán và các quy định, quy chế trong lĩnh vực BHYT.

4. Xây dựng chính sách viện phí trình Chính phủ ban hành làm cơ sở thanh toán chi phí KCB BHYT.

5. Tuyên truyền, phổ biến chế độ, chính sách, pháp luật về BHYT.

6. Chỉ đạo, hướng dẫn các cơ sở y tế tổ chức triển khai thực hiện chế độ BHYT.

7. Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về BHYT, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về BHYT.

8. Theo dõi, đánh giá, tổng kết các hoạt động trong lĩnh vực BHYT.

9. Tổ chức thực hiện hoạt động nghiên cứu khoa học và Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực BHYT.
Điều 9. Trách nhiệm của UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

1. Chỉ đạo tổ chức thực hiện chính sách về BHYT trên địa bàn quản lý.

2. Bảo đảm kinh phí đóng BHYT cho các đối tượng được ngân sách nhà nước hỗ trợ theo quy định của Luật này.

3. Tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về bảo hiểm y tế trên địa bàn quản lý.

4. Kiểm tra, thanh tra và giải quyết các vướng mắc trong việc khám, chữa bệnh cho người có thẻ BHYT và việc thực hiện các quy định của pháp luật về BHYT trên địa bàn quản lý.

Điều10. Chế độ báo cáo, kiểm toán

1. Hàng năm, Chính phủ báo cáo Quốc hội về quản lý và sử dụng quỹ BHYT.

2. Định kỳ 3 năm, Kiểm toán nhà nước thực hiện kiểm toán quỹ BHYT và báo cáo kết quả với Quốc hội. Trong trường hợp cần thiết, theo yêu cầu của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội hoặc Chính phủ, quỹ BHYT được kiểm toán đột xuất.

Điều 11. Các hành vị bị nghiêm cấm

1. Đóng BHYT không đúng theo quy định của Luật này.

2. Cấp thẻ BHYT không đúng theo quy định của Luật này.

3. Gian lận trong việc thực hiện BHYT.

4. Giả mạo hồ sơ trong thực hiện BHYT.

5. Sử dụng tiền đóng và quỹ BHYT trái quy định của Luật này.

6. Cản trở, gây khó khăn, làm thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia BHYT.

7. Báo cáo sai sự thật, cung cấp sai lệch thông tin, số liệu về BHYT.

Chương II

Đối tượng, mức đóng và trách nhiệm đóng

Bảo hiểm y tế bắt buộc

Điều 12. Đối tượng tham gia Bảo hiểm y tế

1. Người lao động làm việc có giao kết hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ ba tháng trở lên theo quy định của pháp luật về lao động.

2. Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức.

3. Người hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hàng tháng.

4. Cán bộ xã, phường, thị trấn đã nghỉ việc đang hưởng trợ cấp BHXH hàng tháng.

5. Người hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hàng tháng; Công nhân cao su nghỉ việc đang hưởng trợ cấp BHXH hàng tháng.

6. Người đã thôi hưởng trợ cấp mất sức lao động đang hưởng trợ cấp hàng tháng từ ngân sách nhà nước.

7. Người hưởng trợ cấp thất nghiệp.

8. Người có công với cách mạng và thân nhân của họ theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng.

9. Cựu chiến binh tham gia kháng chiến từ ngày 30/4/1975 trở về trước theo quy định của pháp luật về cựu chiến binh.

10. Người trực tiếp tham gia kháng chiến từ ngày 30/4/1975 trở về trước.

11. Đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân đương nhiệm các cấp.

12. Người hưởng trợ cấp bảo trợ xã hội hàng tháng theo quy định của Chính phủ.

13. Người nghèo theo quy định của Chính phủ.

14. Người dân tộc thiểu số đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn.

15. Cán bộ xã già yếu nghỉ việc đang hưởng trợ cấp hàng tháng.

16. Thân nhân sĩ quan và quân nhân chuyên nghiệp thuộc Quân đội nhân dân đang tại ngũ; thân nhân sĩ quan nghiệp vụ và sĩ quan chuyên môn, kỹ thuật đang công tác trong lực lượng Công an nhân dân; thân nhân của người đang làm công tác cơ yếu là sĩ quan đang công tác tại Ban Cơ yếu Chính phủ và người đang làm công tác cơ yếu hưởng lương theo bảng lương cấp bậc quân hàm sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân.

17. Trẻ em dưới 6 tuổi.

18. Người đã hiến mô, bộ phận cơ thể người theo quy định của pháp luật về hiến mô, bộ phận cơ thể người.

19. Người nước ngoài đang học tập tại Việt Nam được Nhà nước Việt Nam cấp học bổng.

20. Các đối tượng khác do Chính phủ quy định.
Điều 13. Mức đóng và trách nhiệm đóng Bảo hiểm y tế

1. Mức đóng và trách nhiệm đóng BHYT

a) Mức đóng hàng tháng của các đối tượng quy định tại khoản 1, 2 của Điều 12 bằng 3% tiền lương, tiền công tháng của người lao động, trong đó người sử dụng lao động đóng 2/3 và người lao động đóng 1/3;

b) Mức đóng hàng tháng của đối tượng quy định tại khoản 3, Điều 12 của Luật này bằng 3% tiền lương hưu, tiền trợ cấp mất sức lao động, do tổ chức Bảo hiểm xã hội đóng;

c) Mức đóng hàng tháng của các đối tượng quy định tại khoản 4, 5, 6, Điều 12 của Luật này bằng 3% tiền lương tối thiểu chung, do tổ chức Bảo hiểm xã hội đóng;

d) Mức đóng hàng tháng của các đối tượng quy định tại khoản 7 Điều 12 của Luật này bằng 3% mức lương tối thiểu, do cơ quan tổ chức thực hiện bảo hiểm thất nghiệp đóng;

đ) Mức đóng hàng tháng của các đối tượng quy định tại khoản 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17 và khoản 18, Điều 12 của Luật này bằng 3% mức lương tối thiểu chung, do ngân sách nhà nước đóng;

e) Mức đóng hàng tháng của các đối tượng quy định tại khoản 19 Điều 12 của Luật này bằng 3% mức học bổng, do đơn vị cấp học bổng đóng;

g) Mức đóng và trách nhiệm đóng của các đối tượng khác do Chính phủ quy định.

2. Mức đóng quy định tại khoản 1 Điều này, từ năm 2010 trở đi, mỗi năm tăng 0,6% cho đến khi đạt 6% tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp, tiền học bổng hàng tháng hoặc mức lương tối thiểu chung.
Điều 14. Tiền lương, tiền công, tiền trợ cấp làm căn cứ đóng Bảo hiểm y tế

1. Đối tượng quy định tại khoản 1, 2 Điều 12 của Luật này thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định thì tiền lương tháng theo ngạch, bậc và các khoản phụ cấp chức vụ lãnh đạo, phụ cấp thâm niên nghề, thâm niên vượt khung và hệ số chênh lệch bảo lưu (nếu có) theo hệ thống thang, bảng lương do Chính phủ quy định trong từng thời kỳ là căn cứ đóng BHYT.

2. Đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 12 của Luật này thực hiện theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quy định thì tiền lương, tiền công tháng được ghi trong hợp đồng lao động là căn cứ đóng BHYT.

3. Đối tượng quy định tại khoản 3 Điều 12 của Luật này thì tiền lương hưu, tiền trợ cấp BHXH hiện hưởng là căn cứ đóng BHYT.
Điều 15. Phương thức đóng Bảo hiểm y tế

1. Hàng tháng người sử dụng lao động có trách nhiệm trích tiền đóng BHYT và thu tiền đóng BHYT của người lao động theo quy định tại Điều 13 và Điều 17 của Luật này chuyển vào Quỹ BHYT.

2. Đối với các doanh nghiệp nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp không trả lương theo tháng, người sử dụng lao động có trách nhiệm đăng ký và hợp đồng với tổ chức BHYT; trích tiền đóng BHYT và thu tiền đóng BHYT của người lao động theo quy định tại Điều 13 của Luật này để chuyển vào Quỹ BHYT theo 3 tháng hoặc 6 tháng một lần.

3. Đối với các đối tượng do cơ quan Bảo hiểm xã hội đóng BHYT, cơ quan Bảo hiểm xã hội có trách nhiệm lập danh sách và đóng BHYT vào Quỹ BHYT theo định kỳ hàng tháng.

4. Các đối tượng do ngân sách nhà nước đóng BHYT, cơ quan có trách nhiệm đóng BHYT cho người tham gia BHYT phải đóng BHYT vào Quỹ BHYT một năm một lần theo niên độ tài chính.

Chương III

Đối tượng, mức đóng và trách nhiệm đóng

Bảo hiểm y tế tự nguyện
Điều 16. Đối tượng tham gia Bảo hiểm y tế tự nguyện

BHYT tự nguyện được áp dụng đối với người có nhu cầu tự nguyện tham gia BHYT.
Điều 17. Mức đóng và phương thức đóng

1. Mức đóng đối với người tham gia BHYT tự nguyện được xác định theo các mức khác nhau do Chính phủ quy định.

2. Việc đóng BHYT tự nguyện được thực hiện theo nhóm đối tượng thuộc tổ chức hoặc theo địa giới hành chính với một trong các phương thức đóng sau đây:

a) Ba tháng một lần;

b) Sáu tháng một lần;

c) Mười hai tháng một lần.

Chương IV

Thủ tục tham gia Bảo hiểm y tế
Điều 18. Thẻ Bảo hiểm y tế

1. Thẻ BHYT được cấp cho người tham gia BHYT làm căn cứ để được hưởng các quyền lợi về BHYT theo quy định của Luật này.

2. Người tham gia BHYT chỉ được cấp một thẻ BHYT. Trong trường hợp một người thuộc nhiều đối tượng tham gia BHYT chỉ được cấp một thẻ BHYT theo thứ tự quy định tại Điều 12 của Luật này.

3. Thẻ BHYT phải có ảnh của người tham gia BHYT, trừ đối tượng trẻ em dưới sáu tuổi.

4. Tổ chức BHYT quy định mẫu, thời hạn sử dụng, phát hành, quản lý thẻ BHYT và tổ chức thực hiện thống nhất trong cả nước.

Điều 19. Giá trị sử dụng của thẻ Bảo hiểm y tế

1. Thẻ BHYT của đối tượng tham gia BHYT bắt buộc có giá trị sử dụng ngay và liên tục khi đóng BHYT đúng quy định.

2. Thẻ BHYT của đối tượng tham gia BHYT tự nguyện có giá trị sử dụng sau 60 ngày kể từ ngày đóng BHYT theo quy định; đối với dịch vụ kỹ thuật cao được hưởng sau 120 ngày, đối với thai sản được hưởng sau 210 ngày kể từ ngày thẻ BHYT có giá trị sử dụng trong các trường hợp sau:

a) Đóng BHYT lần đầu;

b) Đóng BHYT lại sau một thời gian không tham gia BHYT.

3. Thẻ BHYT không có giá trị sử dụng trong những trường hợp sau:

a) Thẻ đã hết thời hạn sử dụng;

b) Thẻ không phải do cơ quan có thẩm quyền ban hành;

c) Thẻ bị sửa chữa, tẩy xoá, rách nát.

Điều 20. Cấp, đổi, thu hồi thẻ Bảo hiểm y tế

1. Việc cấp, cấp lại, đổi thẻ phải bảo đảm quyền lợi của người tham gia BHYT.

2. Thẻ BHYT được cấp lại trong trường hợp mất hoặc rách, nát, hỏng; được đổi khi thay đổi nơi đăng ký khám, chữa bệnh ban đầu.

3. Thẻ BHYT bị thu hồi trong các trường hợp sau đây:

a) Gian lận trong sử dụng thẻ BHYT để được hưởng quyền lợi BHYT;

b) Thẻ BHYT cấp không đúng đối tượng;

c) Người có tên trong thẻ BHYT không tiếp tục tham gia BHYT.

Điều 21. Hồ sơ cấp thẻ Bảo hiểm y tế

1. Danh sách người tham gia BHYT do người sử dụng lao động, người đại diện của người tham gia BHYT lập.

2. Bản sao quyết định thành lập hoặc giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc giấy phép hoạt động đối với người sử dụng lao động tham gia BHYT bắt buộc lần đầu.

3. Bản đăng ký tham gia BHYT của người sử dụng lao động, người đại diện của người tham gia BHYT.

Điều 22. Hồ sơ cấp lại, đổi thẻ Bảo hiểm y tế

1. Đơn đề nghị cấp lại hoặc đổi thẻ BHYT của người tham gia BHYT.

2. Thẻ BHYT còn giá trị sử dụng trong trường hợp yêu cầu đổi thẻ BHYT.

Chương V

Quyền lợi của người tham gia Bảo hiểm y tế
Điều 23. Nguyên tắc xác định quyền lợi của người tham gia Bảo hiểm y tế

1. Quyền lợi khám, chữa bệnh của người tham gia BHYT được xác định phù hợp với trình độ phát triển ứng dụng khoa học kỹ thuật y tế, khả năng đáp ứng của hệ thống khám, chữa bệnh và khả năng cân đối quỹ BHYT.

2. Cơ quan quản lý nhà nước về BHYT chủ trì, phối hợp với tổ chức BHYT định kỳ rà soát, bổ sung và điều chỉnh quyền lợi của người tham gia BHYT phù hợp với khả năng đóng góp của người tham gia BHYT và sự phát triển kinh tế – xã hội của từng thời kỳ.
Điều 24. Phạm vi quyền lợi của người tham gia Bảo hiểm y tế

1. Được quỹ BHYT chi trả chi phí theo chế độ viện phí khi khám bệnh, chữa bệnh, phục hồi chức năng ngoại trú và nội trú ở các cơ sở y tế có hợp đồng khám, chữa bệnh BHYT, bao gồm:

a) Khám, chữa bệnh ngoại trú, điều trị nội trú:

- Khám bệnh ngoại trú;

- Ngày giường điều trị nội trú.

- Sử dụng các dịch vụ y tế theo quy định;

- Sử dụng máu và chế phẩm máu; thuốc, hoá chất theo danh mục quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế;

- Sử dụng vật tư, thiết bị y tế theo danh mục quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế

b) Phục hồi chức năng: khám, chẩn đoán và điều trị phục hồi chức năng đối với các bệnh theo danh mục quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế.

2. Được quỹ BHYT chi trả chi phí vận chuyển trong trường hợp cấp cứu hoặc đang điều trị nội trú phải chuyển tuyến chuyên môn, kỹ thuật theo quy định của Bộ Y tế đối với người nghèo, người thuộc diện chính sách xã hội.

3. Trường hợp KCB theo yêu cầu, vượt tuyến chuyên môn, kỹ thuật, KCB ở nước ngoài thì người có thẻ BHYT được quỹ BHYT chi trả phần chi phí trong phạm vi quy định

4. Các trường hợp quy định tại khoản 2, Điều 18 của Luật này được hưởng quyền lợi theo nhóm đối tượng có quyền lợi cao nhất.

5. Người có thẻ BHYT có trách nhiệm cùng chi trả chi phí KCB, trừ đối tượng người nghèo, người thuộc diện chính sách xã hội, trẻ em dưới 6 tuổi.

6. Chính phủ quy định cụ thể quyền lợi của người tham gia BHYT theo quy định tại khoản 1, 2, 3,4, 5 Điều này.

Điều 25. Các trường hợp không thuộc phạm vi quyền lợi Bảo hiểm y tế

Quỹ BHYT không thanh toán trong các trường hợp sau:

1. Sử dụng thuốc, vật tư y tế ngoài danh mục thuốc, vật tư y tế theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế.

2. Khám, điều trị bệnh, sử dụng thuốc đặc trị bệnh đã được ngân sách nhà nước chi trả.

3. Điều dưỡng, an dưỡng.

4. Các xét nghiệm, chẩn đoán thai không nhằm mục đích điều trị, trừ trường hợp khám thai định kỳ.

5. Khám sức khỏe định kỳ và các trường hợp khám sức khỏe để được cấp giấy chứng nhận sức khỏe.

6. Các dịch vụ kế hoạch hóa gia đình (trừ trường hợp phải đình chỉ thai nghén do các nguyên nhân bệnh lý của thai nhi hay của sản phụ được xác định), sinh con bằng phương pháp khoa học.

7. Các dịch vụ thẩm mỹ.

8. Chân tay giả, mắt giả, răng giả, khớp nhân tạo, kính mắt, máy trợ thính, phương tiện trợ giúp vận động.

9. Điều trị bệnh nghề nghiệp, tai nạn lao động, tai nạn giao thông, bệnh bẩm sinh, tai nạn chiến tranh, thảm họa.

10. Chi phí điều trị trong trường hợp:

a) Tự tử;

b) Tự gây thương tích;

c) Khám, xét nghiệm, điều trị nghiện ma túy, nghiện rượu hoặc các chất gây nghiện khác;

d) Tổn thương về thể chất, tinh thần do hành vi vi phạm pháp luật của người đó gây ra.

11. Giám định y khoa; giám định pháp y; giám định pháp y tâm thần.

12. Các dịch vụ kỹ thuật hoặc phương pháp khám, chữa bệnh chưa được phép áp dụng trong chẩn đoán và điều trị theo quy định của Bộ Y tế.

13. Tham gia thử nghiệm lâm sàng, nghiên cứu khoa học.

Chương VI

Tổ chức khám, chữa bệnh cho người có thẻ Bảo hiểm y tế
Điều 26. Cơ sở khám, chữa bệnh Bảo hiểm y tế

1. Cơ sở khám, chữa bệnh BHYT bao gồm:

a) Cơ sở KCB ban đầu;

b) Cơ sở KCB tiếp nhận bệnh nhân BHYT từ các cơ sở KCB khác chuyển đến theo tuyến chuyên môn, kỹ thuật theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế;

2. Các cơ sở y tế tham gia khám, chữa bệnh BHYT phải đáp ứng điều kiện, tiêu chuẩn chuyên môn, kỹ thuật theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế.
Điều 27. Hợp đồng khám, chữa bệnh Bảo hiểm y tế

1. Hợp đồng khám, chữa bệnh BHYT là sự thoả thuận giữa tổ chức BHYT với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, theo đó cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có trách nhiệm cung ứng dịch vụ khám, chữa bệnh cho người có thẻ BHYT, tổ chức BHYT có trách nhiệm thanh toán chi phí khám, chữa bệnh cho cơ sở khám, chữa bệnh.

2. Nội dung hợp đồng gồm: Căn cứ pháp lý; yêu cầu về chất lượng chuyên môn; căn cứ và hình thức thanh toán chi phí khám, chữa bệnh; quyền lợi và trách nhiệm cụ thể của các bên; thời hạn hợp đồng và các điều khoản cần thiết khác.

3. Việc ký kết, thay đổi, thanh lý, chấm dứt hợp đồng phải bảo đảm không làm gián đoạn việc khám, chữa bệnh của người tham gia BHYT.

4. Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành mẫu hợp đồng khám, chữa bệnh BHYT.
Điều 28. Đăng ký khám, chữa bệnh Bảo hiểm y tế và chuyển tuyến điều trị.

1. Người tham gia BHYT được lựa chọn một cơ sở y tế có hợp đồng KCB BHYT để đăng ký khám, chữa bệnh ban đầu theo hướng dẫn của tổ chức BHYT. Cơ sở khám, chữa bệnh ban đầu được ghi trên thẻ BHYT .

2. Trường hợp người tham gia BHYT phải làm việc lưu động tại các địa phương khác nhau, tổ chức BHYT có trách nhiệm hướng dẫn và phối hợp với người sử dụng lao động để đăng ký cơ sở khám, chữa bệnh ban đầu.

3. Trường hợp vượt quá khả năng chuyên môn, kỹ thuật thì cơ sở KCB có trách nhiệm chuyển viện theo đúng tuyến chuyên môn, kỹ thuật phù hợp với tình trạng bệnh tật theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế.

4. Trong trường hợp cấp cứu, người có thẻ BHYT được khám, chữa bệnh tại bất kỳ cơ sở khám, chữa bệnh BHYT nào và được hưởng chế độ BHYT.
Điều 29. Thủ tục khám, chữa bệnh Bảo hiểm y tế

1. Người tham gia BHYT phải xuất trình thẻ BHYT khi đến khám, chữa bệnh. Trường hợp trình thẻ muộn thì những ngày không trình thẻ chỉ được hưởng một phần chi phí KCB như trường hợp KCB theo yêu cầu.

2. Trường hợp cấp cứu, người tham gia BHYT phải xuất trình thẻ BHYT trước khi ra viện.

3. Trường hợp chuyển tuyến, người tham gia BHYT phải có hồ sơ chuyển viện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế.

4. Trường hợp khám lại theo yêu cầu điều trị, người tham gia BHYT phải có giấy hẹn khám lại theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế.
Điều 30. Giám định hoạt động khám, chữa bệnh Bảo hiểm y tế

1. Nội dung giám định.

a) Kiểm tra thủ tục khám, chữa bệnh;

b) Kiểm tra, giám sát chất lượng KCB;

c) Kiểm tra, xác định chi phí KCB.

2. Việc tổ chức giám định được tiến hành thường xuyên hoặc đột xuất khi có yêu cầu. Tổ chức BHYT hướng dẫn cụ thể quy trình tổ chức thực hiện giám định BHYT.

3. Bộ trưởng Bộ Y tế quy định cụ thể chất lượng KCB quy định tại điểm b khoản 1 Điều này.

Chương VII

THANH TOÁN CHI PHÍ KHÁM, chữa bệnh Bảo hiểm y tế

Điều 31. Phương thức thanh toán chi phí khám, chữa bệnh.

1. Tổ chức BHYT thanh toán chi phí KCB với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thông qua hợp đồng khám, chữa bệnh BHYT hoặc thanh toán trực tiếp chi phí khám, chữa bệnh với người có thẻ BHYT theo các hình thức sau:

a) Thanh toán theo phí dịch vụ;

b) Thanh toán theo định suất;

c) Thanh toán theo ca bệnh;

d) Các phương thức khác.

2. Chính phủ quy định cụ thể về các phương thức thanh toán quy định tại khoản 1 Điều này.
Điều 32. Thanh toán theo phí dịch vụ

1. Căn cứ để thanh toán theo phí dịch vụ là bảng giá viện phí áp dụng tại cơ sở khám, chữa bệnh đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định của nhà nước về thu viện phí.

2. Cơ sở khám, chữa bệnh đảm bảo cung cấp đủ thuốc, vật tư y tế, dịch truyền theo danh mục quy định, đáp ứng yêu cầu điều trị của người bệnh.

3. Việc bổ sung bảng giá viện phí thực hiện theo quy định của nhà nước về thu viện phí.
Điều 33. Thanh toán theo định suất

1. Định suất thanh toán được xác định dựa trên mức phí xác định tính trên mỗi đầu thẻ đăng ký tại cơ sở khám, chữa bệnh BHYT trong một khoảng thời gian nhất định để bảo đảm quyền lợi cho người có thẻ BHYT.

2. Định suất thanh toán được điều chỉnh hàng năm phù hợp với sự gia tăng chi phí khám, chữa bệnh và phạm vi quyền lợi của người có thẻ BHYT.

Điều 34. Thanh toán theo ca bệnh

1. Thanh toán theo ca bệnh được xác định dựa trên mức phí xác định đối với từng loại bệnh hay nhóm bệnh cụ thể đã được chẩn đoán xác định.

2. Định mức thanh toán theo ca bệnh được điều chỉnh hàng năm phù hợp với sự gia tăng chi phí khám, chữa bệnh.

Điều 35. Thanh toán trực tiếp được thực hiện trong các trường hợp sau đây:

1. Khám, chữa bệnh theo yêu cầu; KCB không đúng tuyến chuyên môn, kỹ thuật, KCB tại các cơ sở y tế không có hợp đồng với tổ chức BHYT, KCB ở nước ngoài; xuất trình thẻ BHYT muộn.

2. Khám, chữa bệnh theo đúng tuyến quy định nhưng chưa được hưởng hoặc hưởng chưa đầy đủ quyền lợi theo quy định.

3. Các trường hợp khác theo quy định của Chính phủ.
Điều 36. Tạm ứng, thanh toán, quyết toán chi phí khám, chữa bệnh Bảo hiểm y tế

1. Tạm ứng chi phí KCB BHYT.

a) Đối với cơ sở KCB hợp đồng KCB BHYT lần đầu, tổ chức BHYT có trách nhiệm tạm ứng tối thiểu bằng 80% kinh phí theo kế hoạch được giao.

b) Cuối mỗi quý, tổ chức BHYT có trách nhiệm tạm ứng cho quý sau tối thiểu bằng 80% chi phí khám, chữa bệnh của cơ sở KCB đã được quyết toán của quý trước đó;

2. Thanh toán, quyết toán chi phí KCB bảo hiểm y tế.

Trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày đầu của quý sau, tổ chức BHYT và cơ sở KCB có trách nhiệm quyết toán chi phí KCB của quý. Sau khi quyết toán, tổ chức BHYT có trách nhiệm thanh toán số tiền còn thiếu của quý cho cơ sở KCB.

3. Việc tạm ứng, thanh toán, quyết toán được thực hiện theo hàng quý.

4. Nguồn kinh phí do tổ chức BHYT thanh toán cho các cơ sở khám, chữa bệnh là nguồn thu viện phí của đơn vị, được quản lý và sử dụng theo quy định hiện hành của nhà nước về quản lý tài chính đối với các cơ sở khám chữa bệnh.

Chương VIII

Quỹ Bảo hiểm y tế
Điều 37. Nguồn hình thành Quỹ Bảo hiểm y tế

1. Tiền đóng BHYT theo quy định tại Điều 13 và Điều 17 của Luật này.

2. Tiền sinh lời của hoạt động đầu tư từ Quỹ BHYT.

3. Tài trợ, viện trợ của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước.

4. Hỗ trợ của Nhà nước.

5. Các nguồn thu hợp pháp khác.

Điều 38. Quản lý quỹ Bảo hiểm y tế

1. Quỹ BHYT gồm Quỹ BHYT bắt buộc, Quỹ BHYT tự nguyện; được quản lý tập trung, thống nhất và công khai.

2. Quỹ BHYT bắt buộc, Quỹ BHYT tự nguyện được hạch toán độc lập.

3. Xử lý mất cân đối thu chi:

a) Trường hợp tổng số thu của một trong hai quỹ nhỏ hơn tổng chi thì được phép sử dụng nguồn kết dư hoặc nguồn hỗ trợ khác theo quy định để bảo đảm cân đối thu chi quỹ;

b) Trường hợp cả hai quỹ có nguy cơ mất cân đối thu chi, Chính phủ xem xét, quyết định các biện pháp để bảo đảm an toàn quỹ và kịp thời báo cáo Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

4. Chính phủ quy định cụ thể việc quản lý quỹ BHYT.
Điều 39. Sử dụng và điều tiết quỹ Bảo hiểm y tế

1. Sử dụng quỹ BHYT:

a) Trích lập quỹ khám, chữa bệnh;

b) Trích lập quỹ dự phòng khám, chữa bệnh;

c) Chi phí quản lý;

d) Đầu tư để bảo toàn và tăng trưởng quỹ BHYT theo quy định tại Điều 40 của Luật này.

2. Điều tiết quỹ BHYT:

Trong phạm vi nguồn quỹ BHYT được sử dụng trong năm, tổ chức BHYT thực hiện điều tiết quỹ khám, chữa bệnh để bảo đảm kinh phí thanh toán chi phí khám, chữa bệnh BHYT.

3. Chính phủ quy định cụ thể việc sử dụng và điều tiết quỹ BHYT.
Điều 40. Nguyên tắc và hình thức đầu tư

1. Hoạt động đầu tư để bảo toàn và tăng trưởng quỹ BHYT phải bảo đảm nguyên tắc an toàn, hiệu quả và thu hồi được.

2. Các hình thức đầu tư:

a) Mua trái phiếu, tín phiếu của Nhà nước;

b) Cho ngân hàng của Nhà nước vay;

c) Các hình thức đầu tư khác do Chính phủ quy định.

Chương IX

Tổ chức Bảo hiểm y tế

Điều 41. Tổ chức Bảo hiểm y tế

1. Tổ chức BHYT là tổ chức sự nghiệp, có chức năng tổ chức thực hiện chế độ, chính sách BHYT, quản lý và sử dụng quỹ BHYT theo quy định của Luật này.

2. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của tổ chức BHYT do Chính phủ quy định.

Điều 42. Hội đồng quản lý Bảo hiểm y tế

1. Hội đồng quản lý BHYT do Thủ tướng Chính phủ thành lập, có trách nhiệm giám sát, chỉ đạo thực hiện chế độ, chính sách BHYT.

2. Hội đồng quản lý gồm đại diện Bộ Y tế, Bộ Tài chính, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, tổ chức bảo hiểm y tế và một số thành viên do Chính phủ quy định.

3. Hội đồng quản lý có Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và các ủy viên của Hội đồng quản lý do Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức.

4. Quy chế làm việc của Hội đồng quản lý BHYT do Chính phủ quy định.
§iÒu 43. NhiÖm vô cña Héi ®ång qu¶n lý Bảo hiểm y tế

1. Thẩm định kế hoạch hoạt động hàng năm, giám sát, kiểm tra việc thực hiện kế hoạch của tổ chức bảo hiểm y tế.

2. Quyết định hình thức đầu tư quỹ bảo hiểm y tế theo đề nghị của tổ chức bảo hiểm y tế.

3. Kiến nghị với Bộ Y tế và cơ quan nhà nước có thẩm quyền xây dựng, sửa đổi, bổ sung chế độ, chính sách, pháp luật về bảo hiểm y tế, chiến lược phát trển của ngành, kiện toàn hệ thống tổ chức của tổ chức bảo hiểm y tế, cơ chế quản lý và sử dụng quỹ bảo hiểm y tế.

4. Thông qua dự toán và quyết toán hàng năm về thu, chi quỹ bảo hiểm y tế; Chỉ đạo, giám sát và đánh giá thực hiện chính sách BHYT; giám sát công tác khám chữa bệnh, đảm bảo quyền lợi cho người tham gia BHYT;

5. Quyết định áp dụng các biện pháp tạm thời, cấp bách để bảo đảm quyền lợi của người tham gia bảo hiểm y tế và sự an toàn quỹ bảo hiểm y tế.

6. Đề nghị bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các chức danh lãnh đạo của tổ chức bảo hiểm y tế.

Chương X

Quyền và trách nhiệm của các bên liên quan đến Bảo hiểm y tế
Điều 44. Quyền của người tham gia Bảo hiểm y tế

1. Được cấp thẻ BHYT khi đóng BHYT theo quy định của Luật này.

2. Được quỹ BHYT thanh toán chi phí khám, chữa bệnh theo chế độ BHYT quy định tại Điều 24, Điều 25 của Luật này.

3. Được đăng ký KCB ban đầu thuận lợi cho việc khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe tại một trong các cơ sở KCB BHYT theo hướng dẫn của tổ chức BHYT.

4. Yêu cầu tổ chức BHYT, cơ sở khám, chữa bệnh và cơ quan liên quan giải thích, cung cấp thông tin về chế độ BHYT.

5. Kiến nghị, khiếu nại, tố cáo khi phát hiện hành vi vi phạm Luật BHYT.

6. Các quyền khác theo quy định của pháp luật.
Điều 45. Trách nhiệm của người tham gia Bảo hiểm y tế

1. Đóng BHYT đầy đủ, đúng thời hạn theo quy định của Luật này.

2. Sử dụng thẻ BHYT đúng mục đích.

3. Xuất trình thẻ BHYT và các giấy tờ khác theo quy định khi đến khám, chữa bệnh.

4. Chấp hành các quy định và hướng dẫn của tổ chức BHYT, của cơ sở y tế khi khám, chữa bệnh.

5. Tự thanh toán phần chi phí khám, chữa bệnh ngoài phần chi phí do quỹ BHYT thanh toán khi đi khám, chữa bệnh theo quy định của Chính phủ.

6. Các trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật.
Điều 46. Quyền của người sử dụng lao động

1. Từ chối thực hiện những yêu cầu không đúng với quy định của Luật này.

2. Yêu cầu tổ chức BHYT, cơ quan Nhà nước, tổ chức có thẩm quyền liên quan giải thích, cung cấp thông tin về chế độ BHYT.

3. Kiến nghị, khiếu nại, tố cáo khi phát hiện hành vi vi phạm Luật BHYT.

4. Các quyền khác theo quy định của pháp luật.
Điều 47. Trách nhiệm của người sử dụng lao động

1. Đóng BHYT đầy đủ, đúng thời hạn theo quy định của Luật này.

2. Cung cấp đầy đủ, chính xác thông tin, tài liệu về việc thực hiện BHYT của người lao động khi tổ chức BHYT, người lao động hoặc tổ chức, cá nhân đại diện hợp pháp cho người lao động yêu cầu.

3. Chấp hành việc kiểm tra, thanh tra về thực hiện các quy định của pháp luật BHYT.

4. Các trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật.
Điều 48. Quyền của tổ chức Bảo hiểm y tế

1. Yêu cầu cơ quan, tổ chức có trách nhiệm trong việc đóng BHYT cung cấp đầy đủ, chính xác thông tin, tài liệu về việc thực hiện BHYT của người tham gia BHYT.

2. Kiểm tra, giám sát việc thực hiện khám, chữa bệnh cho người bệnh BHYT.

3. Yêu cầu cơ sở khám, chữa bệnh cung cấp hồ sơ, bệnh án, tài liệu về khám, chữa bệnh và thanh toán chi phí khám, chữa bệnh BHYT.

4. Từ chối thanh toán chi phí khám, chữa bệnh không đúng quy định của Luật này hoặc không đúng với các điều khoản ghi trong hợp đồng giữa tổ chức BHYT với cơ sở khám, chữa bệnh.

5. Kiểm tra, thu giữ các chứng từ, thẻ BHYT giả hoặc thẻ BHYT được sử dụng không đúng đối tượng để xử lý hoặc kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật.

6. Kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền xử lý tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật về BHYT.

7. Các quyền khác theo quy định của pháp luật.
Điều 49. Trách nhiệm của tổ chức Bảo hiểm y tế

1. Tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về BHYT.

2. Thu tiền đóng BHYT và phát thẻ BHYT theo quy định của Luật này.

3. Cung cấp thông tin về các cơ sở khám, chữa bệnh và hướng dẫn người tham gia BHYT lựa chọn nơi đăng ký khám, chữa bệnh ban đầu.

4. Ký hợp đồng với các cơ sở khám, chữa bệnh đủ tiêu chuẩn theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế để tổ chức khám, chữa bệnh cho người có thẻ BHYT.

5. Quản lý, sử dụng quỹ BHYT, thanh toán chi phí khám, chữa bệnh BHYT theo quy định.

6. Kiểm tra, giám sát chất lượng KCB, giám định chi phí khám, chữa bệnh BHYT.

7. Tổ chức thông tin, tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về BHYT.

8. Giải quyết theo thẩm quyền các kiến nghị, khiếu nại, tố cáo về chế độ BHYT.

9. Lưu trữ hồ sơ, số liệu theo quy định của pháp luật; ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý BHYT, xây dựng hệ cơ sở dữ liệu quốc gia về BHYT.

10. Tổ chức các đại lý BHYT.

11. Các trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật.
Điều 50. Quyền của cơ sở khám, chữa bệnh Bảo hiểm y tế

1. Yêu cầu tổ chức BHYT cung cấp đầy đủ, chính xác các thông tin có liên quan đến nguồn kinh phí khám, chữa bệnh cho người có thẻ BHYT tại cơ sở khám, chữa bệnh.

2. Được tổ chức BHYT tạm ứng kinh phí và thanh toán chi phí khám, chữa bệnh theo hợp đồng khám, chữa bệnh đã ký.

3. Sử dụng nguồn kinh phí do tổ chức BHYT thanh toán theo quy định.

4. Kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền xử lý tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật về BHYT.

5. Các quyền khác theo quy định của pháp luật.
Điều 51. Trách nhiệm của cơ sở khám, chữa bệnh Bảo hiểm y tế

1. Tổ chức khám, chữa bệnh bảo đảm chất lượng KCB cho người tham gia BHYT.

2. Cung cấp hồ sơ bệnh án, các tài liệu liên quan đến khám, chữa bệnh và thanh toán chi phí khám, chữa bệnh của người bệnh có thẻ BHYT theo yêu cầu của tổ chức BHYT và cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

3. Cung cấp thuốc, vắc xin, sinh phẩm y tế và các dịch vụ y tế theo danh mục do Bộ trưởng Bộ Y tế quy định.

4. Bảo đảm điều kiện cần thiết cho tổ chức BHYT thực hiện công tác giám định; phối hợp với tổ chức BHYT trong việc tuyên truyền, giải thích về chế độ BHYT cho người có thẻ BHYT.

5. Kiểm tra thẻ BHYT, phát hiện và thông báo cho tổ chức BHYT những trường hợp vi phạm và lạm dụng về sử dụng thẻ BHYT.

6. Quản lý và sử dụng kinh phí từ quỹ BHYT theo đúng quy định của pháp luật.

7. Các trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật.
Điều 52. Quyền của tổ chức đại diện người lao động và tổ chức đại diện người sử dụng lao động

1. Yêu cầu tổ chức BHYT, cơ sở KCB và người sử dụng lao động cung cấp thông tin liên quan đến chế độ BHYT của người lao động.

2. Kiến nghị với cơ quan quản lý nhà nước xử lý đối với các hành vi vi phạm pháp luật BHYT ảnh hưởng đến quyền lợi của người lao động.
Điều 53. Trách nhiệm của tổ chức đại diện người lao động và tổ chức đại diện người sử dụng lao động

1. Tuyên truyền, vận động, phổ biến chính sách BHYT đối với người lao động;

2. Tham gia xây dựng, kiến nghị sửa đổi, bổ sung chế độ, chính sách về BHYT.

3. Tham gia giám sát việc thi hành pháp luật về BHYT.

Chương XI

THANH TRA, khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm

về Bảo hiểm y tế v

Điều 54. Thanh tra Bảo hiểm y tế

1. Thanh tra y tế thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành về BHYT.

2. Thanh tra tài chính thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành về tài chính của Quỹ BHYT.

3. Tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của thanh tra y tế, thanh tra tài chính được thực hiện theo quy định của pháp luật về thanh tra.

Điều 55. Khiếu nại về Bảo hiểm y tế

1. Người khiếu nại về BHYT bao gồm:

a) Người tham gia BHYT theo quy định tại Điều 12 của Luật này;

b) Người sử dụng lao động và cơ quan, tổ chức có trách nhiệm đóng BHYT theo quy định tại Điều 13 của Luật này;

c) Tổ chức BHYT;

d) Cơ sở khám, chữa bệnh BHYT.

2. Người tham gia BHYT có quyền khiếu nại quyết định, hành vi của tổ chức BHYT, co sở KCB và người có trách nhiệm trong việc thực hiện BHYT khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó vi phạm pháp luật về BHYT, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

3. Người sử dụng lao động, người có trách nhiệm đóng BHYT cho người tham gia BHYT có quyền khiếu nại quyết định, hành vi của tổ chức BHYT khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó vi phạm pháp luật về bảo hiểm BHYT, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Điều 56. Thẩm quyền, trình tự thủ tục giải quyết khiếu nại về Bảo hiểm y tế

1. Việc giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính về BHYT được thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo.

2. Việc giải quyết khiếu nại đối với quyết định, hành vi về BHYT không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này được thực hiện như sau:

a) Người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu về BHYT là người có quyết định, hành vi về BHYT bị khiếu nại;

b) Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc quá thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khởi kiện tại Tòa án hoặc khiếu nại đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết theo quy định của Chính phủ;

c) Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết của cơ quan có thẩm quyền giải quyết theo quy định của Chính phủ hoặc quá thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khởi kiện tại Tòa án;

d) Thời hiệu khiếu nại, thời hạn giải quyết khiếu nại được áp dụng theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo.

Điều 57. Tố cáo, giải quyết tố cáo về bảo hiểm y tế

Việc tố cáo và giải quyết tố cáo vi phạm pháp luật về BHYT được thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo.

Điều 58. Các hành vi vi phạm pháp luật về Bảo hiểm y tế

1. Các hành vi liên quan đến người tham gia BHYT:

a) Không đóng, đóng BHYT không đúng thời gian, mức đóng theo quy định;

b) Gian lận, giả mạo hồ sơ, sử dụng thẻ BHYT của người khác, cho người khác mượn thẻ BHYT để đi KCB;

c) Ép buộc cán bộ y tế cung cấp dịch vụ y tế vượt quá quy định về chuyên môn hoặc phạm vi quyền lợi được hưởng.

2. Các hành vi liên quan đến cán bộ y tế, cơ sở khám, chữa bệnh BHYT:

a) Phân biệt đối xử, cố tình gây khó khăn hoặc cản trở cho người có thẻ BHYT khi đến KCB;

b) Thiếu trách nhiệm trong chăm sóc, điều trị gây tai biến, ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng, tài sản của người có thẻ BHYT;

c) Cung cấp dịch vụ y tế không đúng quy định chuyên môn và phạm vi quyền lợi mà không do người có thẻ BHYT ép buộc;

d) Kê khống thuốc, dịch truyền, vật tư y tế, xét nghiệm, dịch vụ kỹ thuật và các chi phí khác để thanh toán với quỹ BHYT;

đ) Lập hồ sơ bệnh án khống để lợi dụng thuốc, kinh phí chi trả của quỹ BHYT;

e) Các hành vi gian lận trong thanh toán, sử dụng nguồn thu từ BHYT sai quy định.

3. Các hành vi liên quan đến tổ chức BHYT:

a) Cấp thẻ BHYT cho người tham gia BHYT không đúng quy định;

b) Cố tình gây khó khăn hoặc cản trở người tham gia BHYT trong việc lựa chọn cơ sở KCB, trong thanh toán chi phí khám, chữa bệnh;

c) Cố tình gây khó khăn hoặc cản trở cơ sở khám, chữa bệnh BHYT trong việc tiếp nhận, điều trị, thanh quyết toán chi phí điều trị làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người tham gia BHYT;

d) Sử dụng tiền đóng và quỹ BHYT trái quy định của Luật này.

4. Các hành vi liên quan đến người sử dụng lao động:

a) Không đóng, đóng BHYT không đúng thời gian, mức tiền lương, tiền công cho người lao động theo quy định;

b) Đóng không đủ số người thuộc diện tham gia BHYT;

c) Cố tình gây khó khăn hoặc cản trở việc thu BHYT, cấp phát thẻ BHYT cho người lao động.
Điều 59. Xử lý vi phạm.

1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm các quy định tại Điều 58 của luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan đến BHYT thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm sẽ bị xử lý vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

2. Bộ Y tế, các Bộ Ngành có liên quan, cơ quan Thanh tra chuyên ngành, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của mình có trách nhiệm tổ chức thanh tra, kiểm tra, xử lý hoặc kiến nghị xử lý các vi phạm.

Chương XII

Điều khoản thi hành
Điều 60. Điều khoản chuyển tiếp.
Người có thẻ BHYT trước khi Luật này có hiệu lực thì vẫn tiếp tục thực hiện theo quy định hiện hành về BHYT cho đến khi thẻ BHYT hết giá trị sử dụng.

2. Các quy định trước đây về mức đóng, phạm vi quyền lợi của người tham gia BHYT, sử dụng và quản lý quỹ BHYT, hình thức thanh toán với cơ sở khám, chữa bệnh trước khi Luật này có hiệu lực thì vẫn tiếp tục thực hiện theo các quy định hiện hành về BHYT cho đến khi có quy định và hướng dẫn thực hiện Luật BHYT của Chính phủ.
Điều 61. Hiệu lực thi hành.

Luật này có hiệu lực thi hành kể từ ngày… tháng… năm 200…

Các quy định trước đây về BHYT trái với quy định tại Luật này đều bãi bỏ.
Điều 62. Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành.

Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật nµy.

Sinh tố thập cẩm

Nếu khéo léo kết hợp nhiều loại trái cây với nhau, bạn sẽ có những ly sinh tố ngon, đẹp và bổ dưỡng. Còn đợi gì mà không thử trổ tài?

Cam dừa

Thời gian thực hiện: 7 phút
Giá: 11.000 đồng/ly.

Nguyên liệu
1 quả cam sành, 3 thìa cà phê đường, 1 quả dừa xiêm, 1 thìa súp sữa đặc, 1 bát đá bào.

Thực hiện
1. Cam vắt nước, lược qua rây, bỏ hạt. Dừa nạo lấy phần cơm trắng.
2. Lần lượt cho đá bào, nước cam, đường, sữa, cơm dừa vào máy sinh tố. Xay khoảng 3 phút cho nhuyễn mịn.

Bí quyết
Cơm dừa phải dẻo, mềm. Nếu cứng, sinh tố sẽ bị lợn cợn, không mịn, mất ngon.

Quất sữa

Thời gian thực hiện: 7 phút.
Giá: 7.000 đồng/ly.

Nguyên liệu

1 quả quất (tắc), 3 thìa cà phê quất sợi muối, 3 thìa súp sữa đặc có đường, 1 thìa phê đường, 1 bát đá bào.

Thực hiện

1. Quất bổ đôi, vắt lấy nước, lược qua rây, lấy nước cốt.
2. Lần lượt cho đá bào, sữa đặc, quất sợi, đường, nước quất vào máy xay sinh tố. Xay nhuyễn mịn các nguyên liệu.
3. Rót quất xay ra ly, dùng lạnh.

Bí quyết

Quất sợi muối có bán ở các siêu thị. Giá từ 8.000 đồng/hũ, tùy trọng lượng.

Cà phê sắc màu

Thời gian thực hiện: 7 phút.
Giá: 10.000 đồng/ly.

Nguyên liệu

120ml cà phê, 5 thìa súp sữa đặc có đường, kem xịt, kẹo màu, 1 bát đá bào.

Thực hiện

1. Lần lượt cho đá bào, cà phê, sữa đặc có đường vào máy xay sinh tố. Xay trong 2 phút cho hỗn hợp thật mịn, đẹp mắt.
2. Rót sinh tố ra 2/3 ly, sau đó xịt kem vào cho đầy. Có thể trang trí kẹo màu lên trên cho đẹp mắt.

Bí quyết

Cà phê pha vừa, không quá đặc hoặc quá loãng. Tùy ý thích, bạn có thể gia giảm lượng sữa cho vừa miệng.

Mãng cầu, chanh dây

Thời gian thực hiện: 10 phút.
Giá: 8.000 đồng/ly.

Nguyên liệu

50g mãng cầu gai, 1 quả chanh dây, 2 thìa súp sữa đặc có đường, 5 thìa cà phê đường cát trắng, 1 thìa súp nước đường, 1 bát đá bào.

Thực hiện

1. Mãng cầu bóc vỏ, bỏ hạt. Chanh dây bổ đôi, lấy phần ruột, hòa với nước đường.
2. Xay nhuyễn đã bào, mẵng cầu, đường cát, sữa. Rót sinh tố ra 1/2 ly, cho nửa phần chanh dây vào. Rót tiếp sinh tố, cho phần chanh dây vào. Rót tiếp sinh tố, chi phần chanh dây còn lại vào ly.

Bí quyết

Quả chanh dây vỏ đỏ, hơi héo sẽ có nhiều nước hơn.

Dứa, cà rốt

Thời gian thực hiện: 8 phút.
Giá: 8.000 đồng/ly.

Nguyên liệu

1/4 quả dứa, 1 củ cà rốt nhỏ, 4 thìa cà phê đường, 2 thìa súp sữa đặc có đường, 1 bát đá bào.

Thực hiện

1. Dứa bỏ phần lõi, thái nhỏ. Cà rốt bào vỏ, rửa sạch, thái nhỏ như dứa.
2. Cho đá bào, dứa, cà rốt, đường, sữa vào máy xay sinh tố. Xay thật nhuyễn mịn để tránh lợn cợn khi uống.

Bí quyết

Nên chọn cà rốt, dứa có màu sắc đậm, tươi tắn để ly sinh tố trông bắt mắt, hấp dẫn.

Khoai môn, trân châu

Thời gian thực hiện: 12 phút.
Giá: 9.000 đồng/ly.

Nguyên liệu

50g khoai môn, 4 thìa súp nước cốt dừa hộp, 1 thìa súp sữa đặc có đường, 15g trân châu, 2 thìa cà phê đường, 1 bát đá bào.

Thực hiện

1. Khoai môn rửa sạch, hấp chín, bỏ vỏ, tán nhuyễn. Trân châu ngâm trong nước cho mềm rồi luộc chín.
2. Cho đá bào, khoai môn, nước cốt dừa, đường, sữa đặc vào máy, xay nhuyễn.
3. Rót sinh tố ra ly, cho trân châu vào.

Bí quyết

Không cần gọt vỏ khoai môn trước khi hấp, chỉ rửa sạch để tránh gây ngứa cho tay.
(theo monngonhanoi.com)

Salat trái cây

salad dưa, dâu tây

Nguyên liệu: 1 búp rau xà lách giòn, vài cọng xà lách xoăn, 1/4 quả dưa hấu, 1/2 quả dưa lưới nhỏ, 6 quả dâu tây, 1 nhánh rau quế tây, 1 hũ yoghurt dâu, 1 thìa súp vỏ chanh tươi băm thật nhuyễn, 1 thìa súp nước cốt chanh, 20 g lạc (đậu phộng) rang.

Cách làm: Rửa sạch hai loại rau xà lách, vẩy ráo nước, cắt khúc vừa ăn. Gọt vỏ dưa hấu và dưa lưới. Dùng thìa đầu tròn múc lần lượt từng loại dưa. Rửa sạch dâu tây, ngâm chút muối pha loãng cho sạch, nhặt bỏ cuống, cắt đôi hoặc cắt làm bốn nếu quả lớn.

Xếp rau xà lách ra đĩa sâu lòng, cho dưa hấu, dưa lưới, dâu tây vào. Trộn yoghurt, vỏ chanh, nước cốt chanh, rưới sốt lên salad, rắc lạc rang, trang trí lá rau quế tây.

Salad trộn thập cẩm

Nguyên liệu: 200 g xà lách xoăn, xà lách búp, cải mầm, 100 g bắp cải tím, trắng, 50 g cà rốt, 4 quả cà chua bi, 30 g nho khô đen, vàng, 100 g nho tươi xanh, tím, 1 quả trứng gà.

Gia vị làm sốt: Hòa tan hai thìa súp giấm trắng, 2 thìa súp dầu ôliu, 1/4 thìa cà phê tiêu, 1 thìa súp hạt nêm, 1 thìa cà phê đường.

Cách làm: Rửa xà lách, cải mầm, xé nhỏ. Ngâm bắp cải với nước đá 10 phút, vớt ra, bào nhuyễn. Thái sợi cà rốt, thái nhỏ cà chua bi. Luộc trứng, lấy lòng đỏ, bóp nát. Trộn các loại rau cải, cà rốt, cà chua rắc lòng đỏ, nho lên. Khi dùng rưới sốt dầu giấm.

Salad dứa kiwi

Nguyên liệu: 1 quả kiwi, 1/2 quả dứa thơm, 2 quả hồng giòn, 4 quả dâu tây, 4 quả chà là, 4 quả chuối khô, 1 hũ yoghurt không đường, 1/2 thìa súp rau mùi tây băm nhỏ.

Cách làm: Gọt vỏ kiwi, cắt khoanh vừa ăn. Gọt vỏ dứa, cắt bỏ mắt, lõi, cắt khoanh dày. Gọt vỏ hồng giòn, cắt múi cau, rửa sạch dâu tây, cắt làm bốn, thái nhỏ chuối khô. Xếp từng lớp các loại trái cây ra đĩa, rưới yoghurt lên trên, rắc rau mùi tây. Món này trộn đều trước khi dùng rất ngon

Salad đào tươi

Nguyên liệu: 2 quả đào tươi, 2 quả chuối chín, 1 quả lựu, vài quả chà là khô, 50 g nho khô vàng, 50gr nho khô đen, 2 thìa súp mật ong, 1/4 thìa cà phê bột quế, 1 thìa súp nước cốt chanh.

Cách làm: Gọt vỏ đào tươi, thái múi vừa ăn. Lột vỏ chuối, thái khoanh xéo, hơi dày. Bóc vỏ lựu, tách lấy hạt. Hòa tan mật ong, bột quế, nước cốt chanh. Cho tất cả các loại trái cây tươi, khô ra đĩa, rưới sốt mật ong lên.

(Theo Tiếp Thị & Gia Đình)

Trang trí tường nhà

Nếu bạn ưa thích những khung tranh nghệ thuật thì việc chọn mua và treo chúng như thế nào trong nhà là một ý tưởng hay. Tuy nhiên, tranh cũng nên tương đồng với màu sơn tường hoặc ngược lại nó phải tạo được sự tương phản cần thiết.









(theo nhavui.com)

Bức tranh


Ngày xưa, có một họa sĩ tên là Ranga, một người siêu việt, vẽ được rất nhiều kiệt tác đáng ghi nhớ khiến ai cũng đều khen ngợi.

Ông mở một lớp học mỹ thuật để dạy nghề cho mọi người và cũng để tìm đệ tử nối nghiệp. Ông không mấy khi khen ngợi ai, cũng không bao giờ đề cập đến thời gian của khóa học. Ông nói, một học trò chỉ có thể thành công khi ông hài lòng với kỹ năng và hiểu biết của người đó.

Ông truyền cho học trò những phương pháp đánh giá, ước định của ông, và chúng cũng độc đáo như những tác phẩm của ông vậy. Ông không bao giờ thổi phồng tầm quan trọng của những bức tranh hay sự nổi tiếng, mà ông luôn nhấn mạnh đến cách xử sự, thái độ với cuộc sống của học trò.

Trong một số lượng lớn học trò, Rajeev là một người có tài nhất, chăm chỉ, sáng tạo,nên anh ta tiếp thu nhanh hơn nhiều so với các bạn đồng môn. Ông Ranga rất hài lòng về Rajeev.

Một ngày kia, sau bao nhiêu cố gắng, Rajeev được ông Ranga gọi đến và bảo:

- Ta rất tự hào về những tiến bộ mà con đã đạt được. Bây giờ là thời điểm con làm bài thi cuối cùng trước khi ta công nhận con thực sự là một họa sĩ tài năng. Ta muốn con vẽ một bức tranh mà ai cũng phải thấy đẹp, phải khen ngợi.

Rajeev làm việc ngày đêm, trong rất nhiều ngày và đem đến trình thầy Ranga một bức tranh tuyệt diệu. Thầy Ranga xem qua rồi bảo:

- Con hãy đem bức tranh này ra đặt ở quảng trường chính, để tất cả mọi người có thể chiêm ngưỡng. Hãy viết bên dưới bức tranh là tác giả sẽ rất biết ơn nếu bất kỳ ai có thể chỉ ra bất kỳ sơ suất nào trên bức tranh và đánh một dấu X vào chỗ lỗi đó.

Rajeev làm theo lời thầy: đặt bức tranh ở quảng trường lớn với một thông điệp đề nghị mọi người chỉ ra những sơ suất.

Sau hai ngày, Ranga đề nghị Rajeev lấy bức tranh về. Rajeev rất thất vọng khi bức tranh của mình đầy dấu X. Nhưng Ranga tỏ ra bình tĩnh và khuyên Rajeev đừng thất vọng, cố gắng lần nữa. Rajeev vẽ một kiệt tác khác, nhưng thầy Ranga bảo phải thay đổi thông điệp dưới bức tranh. Thầy Ranga nói phải để màu vẽ và bút ngay cạnh bức tranh ở quảng trường và đề nghị mọi người tìm những chỗ sai trong bức tranh và sửa chúng lại bằng những dụng cụ để vẽ ấy.

Hai ngày sau, khi lấy tranh về, Rajeev rất vui mừng khi thấy bức tranh không bị sửa gì hết và tự tin đem đến chỗ Ranga. Ranga nói:

- Con đã thành công vào ngày hôm nay. Bởi vì nếu chỉ thành thạo về mỹ thuật thôi thì chưa đủ, mà con còn phải biết rằng con người bao giờ cũng đánh giá bừa bãi ngay khi có cơ hội đầu tiên, cho dù họ chẳng biết gì về điều đó cả. Nếu con luôn để cả thế giới đánh giá mình, con sẽ luôn thất vọng. Con người thích đánh giá người khác mà không nghĩ đến trách nhiệm hay nghiêm túc gì cả. Mọi người đánh những dấu X lên bức tranh đầu tiên của con vì họ không có trách nhiệm gì mà lại cho đó là việc không cần động não. Nhưng khi con đề nghị họ sửa những sơ suất thì không ai làm nữa, vì họ sợ bộc lộ hiểu biết- những thứ mà họ có thể không có. Nên họ quyết định tránh đi là hơn. Cho nên, những thứ mà con phải vất vả để làm ra được, đừng dễ dàng bị ảnh hưởng bởi đánh giá của người khác. Hãy tự đánh giá mình. Và tất nhiên, cũng đừng bao giờ đánh giá người khác quá dễ dàng.
(sưu tầm)

Những hòn đá lớn


(Nhị Tường dịch)
Một giáo sư, chuyên gia về quản lý thời gian đang sử dụng phương pháp trực quan để dạy cho một nhóm sinh viên thương mại. Khi đứng trước nhóm sinh viên đạt được thành tựu cao, ông nói: “Ðây là lúc kiểm tra”. Thế rồi ông kéo ra một cái hũ khoảng 5 lít và đặt lên bàn trước mặt, rồi đưa ra khoảng chục viên đá to cỡ bằng nắm tay cẩn thận đặt vào bên trong hũ, mỗi lần đặt một viên. Khi chiếc hũ gần đầy, không còn có thể bỏ thêm viên đá nào nữa, ông hỏi: “Chiếc hũ đã đầy rồi phải không?”.

Mọi người đều trả lời: “Vâng”. Giáo sư hỏi lại: “Thật thế chứ?”. Ông lấy phía dưới bàn ra một sọt đựng sỏi và bỏ chúng vào hũ giữa những viên đá lớn. Rồi lần nữa ông hỏi cả lớp xem chiếc hũ đầy chưa. Lần này cả lớp trả lời: “Có thể là chưa”. “Tốt”. Nói đoạn ông lấy từ dưới bàn ra một xô cát, và bắt đầu trút vào trong hũ, cát len lõi vào những viên đá lớn và những hòn sỏi nhỏ. Một lần nữa ông hỏi hũ đã đầy chưa. “Chưa đầy”. Cả lớp la lên. Ông lại nói: “Tốt” và lấy một bình nước trút vào trong hũ đến khi ngập miệng bình.

Ông nhìn cả lớp và hỏi: “Cốt lõi của sự minh họa này là gì?”.

Một sinh viên nôn nóng đáp: “Cốt lõi chính là dù thời gian biểu của chúng ta có kín đi chăng nữa cũng không quan trọng, nếu thực sự cố gắng chúng ta luôn có thể thêm vào”.

“Không phải vậy” Giáo sư trả lời: “Ðó không phải là điều chủ yếu. Chân lý của thí dụ này chính là nếu chúng ta không đặt những viên đá lớn trước tiên, thì chúng ta không bao giờ bỏ hết tất cả vào được”.

Những “viên đá lớn” trong cuộc đời các bạn là gì? Thời gian bạn ở bên cạnh người thân yêu, những niềm tin, sự học, những ước mơ, những động cơ chính đáng của bạn, chỉ bảo hoặc tư vấn cho người khác. Hãy nhớ đặt “NHỮNG VIÊN ÐÁ LỚN” đó trước tiên, nếu không bạn sẽ không bao giờ có được tất cả. Vì vậy, tối nay, hoặc sáng mai, khi bạn nhớ đến câu chuyện trên thì hãy hỏi chính mình: NHỮNG VIÊN ÐÁ LỚN trong cuộc đời ta là gì?

Nghệ thuật sống


Có một câu chuyện kể về con cóc và xô nước. Nó minh họa cho qui luật tình hình thường không xấu đi ngay…

Nếu bạn bỏ một con cóc thông minh và mập mạp vào xô nước nóng, con cóc sẽ làm gì? Ngay lập tức, con cóc quyết định: “Chẳng có gì thích thú, mình phải đi ngay thôi!”. Nó sẽ nhảy ra.

Nếu bạn cũng bỏ chính con cóc này vào trong xô nước lạnh và đặt xô lên bếp… đun nóng từ từ. Điều gì sẽ xảy ra? Con cóc thư giãn… vài phút sau đó nó tự nhủ: “Ở đây thật ấm áp”. Chỉ một vài phút sau, con cóc bị luộc chín.

Ý nghĩa câu chuyện này là gì? Mọi cái đều có quá trình của nó. Cũng giống như con cóc, chúng ta mù mờ và thình lình mọi việc trở nên quá muộn. Chúng ta cần biết chuyện gì đang xảy ra.

Câu hỏi: Nếu bạn thức dậy vào sáng mai và biết mình tăng 20kg, bạn có lo lắng không? Dĩ nhiên là bạn lo và gọi cấp cứu: “Xin đến ngay, tôi bị mập!”. Nhưng khi sự việc xảy ra dần dần, tháng này 1kg, tháng khác 1kg và chúng ta có xu hướng lờ đi.

Khi bạn tiêu vượt quá ngân sách của mình 10 đôla một ngày thì dường như chẳng có vấn đề gì. Nhưng nếu bạn cứ tiếp tục làm như vậy, bạn sẽ cháy túi. Đối với những người bị nợ nần, bị phát phì hay bị ly dị, thường thì đó không phải là một tai họa lớn – vì mỗi ngày nó xảy ra một chút, và rồi một ngày nọ “ùm!”. Họ lo lắng: “Chuyện gì đã xảy ra nhỉ?”.

Cuộc sống luôn mang tính tích lũy. Mỗi ngày một chút như những giọt nước làm mòn phiến đá. Qui luật con cóc bảo chúng ta phải nhìn nhận xu hướng. Mỗi ngày chúng ta phải tự hỏi mình đang nhắm đến đâu? Đích mình cần đi đến là gì? Mình có tiến bộ hơn không? Khỏe hơn, hạnh phúc hơn và thịnh vượng hơn năm ngoái không? Nếu không, chúng ta cần thay đổi việc mình đang làm.

Đây là điều đáng sợ nhất – không có sự đứng yên! Bạn phải tiến lên hoặc lùi lại!

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.